- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con giữa Trần Sà R - Lý Thị B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Sà R được ly hôn với chị Lý Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15-6-2021 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Lý;
Ông Võ Tấn Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Sà R, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
Bị đơn: Bà Lý Thị B, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Trà D, xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Trần Sà Rại trình bày:
Anh và chị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 20/12/2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng khoảng 02 năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn, vợ bỏ lên Bình Dương làm thuê, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không còn tình cảm vợ chồng. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị B. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Lý Phương L, sinh ngày 23/11/2016 hiện con đang sống bên ngoại, anh đồng ý giao con cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại đơn xin vắng mặt đề ngày 25/5/2021 chị Lý Thị B có lời trình bày:
Năm 2016 chị đã kết hôn và có con chung tên Trần Lý Phương L, sinh ngày 23/11/2016, hiện con đang ở với chị, vợ chồng không có tài sản chung. Nay xin vắng mặt và đồng ý ly hôn vì hai vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa, chị yêu cầu được quyền nuôi con và không yêu cầu anh R cấp dưỡng. Vì hiện nay dịch bệnh Covid – 19 đang diễn biến phức tạp nên chị không về được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Trần Sà R và chị Lý Thị B yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con chung, quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Lý Thị B có đơn yêu cầu được giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị B.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn thể hiện ngày 20/12/2016 anh Trần Sà R và chị Lý Thị B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, đương sự trình bày kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Qua lời trình bày của đương sự thể hiện, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến đã ly thân không còn sống chung, mạnh ai nấy sống, không quan tâm lo lắng cho nhau. Anh R và chị B đều thống nhất ly hôn, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh R, giải quyết cho anh R, chị B được ly hôn với nhau.
Về con chung: Vợ chồng thống nhất có một con chung tên Trần Lý Phương L, sinh ngày 23/11/2016, hiện con đang sống bên gia đình chị B. Chị B có nguyện vọng được nuôi con, anh R cũng đồng ý giao con cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận của đương sự về quyền nuôi con, đương sự đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Do vợ chồng đã tự thỏa thuận việc nuôi con chung cũng như không yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa anh R, chị B, giao cháu L cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung: Anh R, chị B thống nhất trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Anh R trình bày nợ chung không có, chị B không đặt ra yêu cầu gì đối với nợ chung. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Anh R là người xin ly hôn phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Sà R được ly hôn với chị Lý Thị B.
2. Về quyền nuôi con: Giao cho chị Lý Thị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Lý Phương L, sinh ngày 23/11/2016 đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Trần Sà R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.
4. Án phí sơ thẩm: Anh Trần Sà R phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0008360 ngày 20/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, anh R đã nộp đủ án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - UBND xã Lâm K; - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Nghiệp |