- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng ĐT - Nguyễn Tiến H"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ĐT.
- Căn cứ chính? Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/DS-ST Ngày: 25/8/2021 V/v:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- - - - - - - - - - - - -
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu T
Ông Lê Văn D
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Q - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị B - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số: 04/2020/TLST-KDTM ngày 02 tháng 3 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2021/QĐXXST-DS ngày 20/7/2021 và Quyết định hoàn phiên tòa số 29/2021/QĐST-DS ngày 05/8/2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng ĐT
Địa chỉ: 35 H, Quận H, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đức T - Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn K - Chức vụ: Giám Ngân hàng ĐT. Có mặt
Bị đơn: Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Dương Thị K, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Tổ dân phố 6, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh G. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện các bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng ĐT trình bày:
Ngày 22 tháng 5 năm 2018, ông Nguyễn Tiến H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2018/1859040/HĐTD để vay số tiền là 450.00.000 đồng; mục đích vay: kinh doanh nông sản; thời hạn vay 11 tháng; lãi suất 10%/năm. Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng trên ông Nguyễn Tiền H và vợ ông H là bà Dương Thị K đã đồng ý thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất thửa đất số 15, tờ bản đồ số 02 tại: Làng ĐC, xã KT, huyện MY, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 787430 mang tên ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K do UBND huyện MY cấp ngày 03/8/2016.
Từ ngày 31/5/2019 đến nay, ông H và bà K không tiếp tục thực hiện việc trả gốc và lãi theo đúng cam kết đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng đã thông báo, mời làm việc nhiều lần, do đó, toàn bộ số tiền vay của ông H và bà K tại Hợp đồng cho vay nói trên đã bị quá hạn.
Vì vậy, Ngân hàng ĐT khởi kiện yêu cầu giải quyết: Buộc ông H và bà K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ĐT tổng số tiền là 622.541.096 đồng (Sáu trăm hai mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn không trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc là 450.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 118.935.617 đồng và lãi quá hạn là 52.705.479 đồng. Trường hợp ông H và bà K không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp số 01/2016/1859040/HĐBĐ ngày 16/8/2016 mà ông H và bà K đã ký kết với Ngân hàng để thu hồi nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ việc niêm yết các văn bản tố tụng để triệu tập bị đơn là ông Nguyễn Tiến H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Dương Thị K đến tham gia tố tụng nhưng ông H và bà K không có mặt vì vậy hồ sơ vụ án không có lời trình bày của ông H và bà K.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông H và bà K phải liên đới trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 622.541.096 đồng. Trường hợp ông H và bà K không thực hiện trả nợ được thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản của ông H và bà K đã thế chấp để thu hồi nợ; Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn là ông Nguyễn Tiến H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Dương Thị K. Tuy nhiên, ông H và bà K không đến Toà án để tham gia tố tụng, không đến tham gia phiên tòa, tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H và bà K.
[2] Về nội dung: Ngày 22 tháng 5 năm 2018, ông Nguyễn Tiến H có ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2018/1859040/HĐTD để vay số tiền là 450.00.000 đồng; mục đích vay: kinh doanh nông sản; thời hạn vay 11 tháng; lãi suất 10%/năm. Để đảm bảo thực hiện hợp đồng vay, ông H và vợ ông H là bà Dương Thị K đã đồng ý thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp số 01/2016/1859040/HĐBĐ ngày 16/8/2016 là quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 02 tại: Làng ĐC, xã KT, huyện MY, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 787430 mang tên ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K do UBND huyện MY cấp ngày 03/8/2016.
Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự, Luật các tổ chức tín dụng nên hợp pháp. Hợp đồng thế chấp nêu trên đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật.
Từ ngày 31/5/2019 đến nay, ông H và bà K không tiếp tục thực hiện việc trả gốc và lãi theo đúng cam kết đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng đã thông báo, mời làm việc nhiều lần, do đó, toàn bộ số tiền vay của ông H và bà K tại Hợp đồng cho vay nói trên đã bị quá hạn.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết buộc ông H và bà K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng ĐT tổng số tiền là 622.541.096 đồng (Sáu trăm hai mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn không trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc là 450.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 118.935.617 đồng và lãi quá hạn là 52.705.479 đồng; Trường hợp ông H và bà K không thể tự trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
[3] Về lệ phí đăng tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú: Tổng số tiền chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000đồng. Nguyên đơn là người có nghĩa vụ thông báo nên phải chịu toàn bộ chi phí này.
[4] Về chí phí xem xét thẩm định: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc ông H và bà K phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 6.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông H và bà K phải chịu toàn bộ số tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 317, 318, 319, 320, 322, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự;
- Các Điều 90, 91, Điều 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng ĐT.
Buộc ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K phải liên đới trả cho Ngân hàng ĐT tổng số tiền tổng số tiền còn nợ là 622.541.096 đồng (Sáu trăm hai mươi hai triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn không trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó: Nợ gốc là 450.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 118.935.617 đồng và lãi quá hạn là 52.705.479 đồng.
Việc tính lãi và cả lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Trường hợp ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K không trả được nợ gốc và nợ lãi nêu trên cho Ngân hàng ĐT thì Ngân hàng ĐT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 01/2016/1859040/HĐBĐ ngày 16/8/2016 để thu hồi nợ, cụ thể:
Quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất đối với thửa đất số 15, tờ bản đồ số 02 tại: Làng ĐC, xã KT, huyện MY, tỉnh G theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 787430 mang tên ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K do UBND huyện MY cấp ngày 03/8/2016
3. Về lệ phí đăng tin tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú: Tổng số tiền chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.000.000đồng. Nguyên đơn là người có nghĩa vụ thông báo nên phải chịu toàn bộ chi phí này. Nguyên đơn đã nộp đủ.
4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp đủ số tiền này. Buộc ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K phải trả lại cho Ngân hàng ĐT số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
5. Về án phí:
- Buộc ông Nguyễn Tiến H và bà Dương Thị K phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 28.901.644 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm lẻ một ngàn sáu trăm bốn mươi bốn đồng đồng).
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng ĐT số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 12.431.893 đồng (Mười hai triệu bốn trăm ba mươi mốt ngàn tám trăm chín mươi ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0005316 ngày 28/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/8/2021), nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án; Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn nêu trên kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G - VKSND huyện Đ - Chi cục THADS Đ - Các đương sự - Lưu HS, AV, VT | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Xuân H |