vanban.org

Bản án 30/2020/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội Cố ý gây thương tích .

Xử phạt bị cáo Trần Hữu L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu L bị truy tố về tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội Cố ý gây thương tích .
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HSST
Ngày: 10-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đoàn Nam Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chi.

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận 2 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/HSST ngày 11/5/2020 theo Quyết định đưa vụ ra xét xử số 45/ 2020/QĐXXST-HS ngày 26/5/2020 đối với bị cáo:

Trần Hữu L, giới tính: Nam, sinh năm: 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 267/28 đường Đ, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Như trên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ; con ông Trần Văn Cường E, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1974; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày: 05/3/2020, có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn X, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hữu L và anh Nguyễn Xuân L1 cùng làm chung tại Công ty bảo vệ X số 58/37 đường H, Phường I, quận J và được Công ty phân công về cùng bảo vệ và trực tại chốt bảo vệ Chung cư Imperia, Khu phố , phường An Phú, Quận 2. Trong quá trình làm việc thì L và L1 có phát sinh mâu thu n do L phát hiện L1 và bạn cùng phòng trọ c a L1 là Nguyễn Thế L có sử dụng ma túy đá nên bị L nhắc nhở. Khoảng 12 giờ 4 phút ngày 0 / /2020, sau khi đi nhậu về L đến chốt bảo vệ Chung cư Imperia thì thấy L1 đang đ ng quay mặt vào phòng nói chuyện với một số bảo vệ khác cùng công ty. Do bực t c chuyện bị L1 chửi mình bu i sáng nên L chạy vào chốt bảo vệ lấy 01 cây kéo, cầm kéo b ng tay trái đâm nhiều nhát vào phía sau bên hông trái c a L1 làm L1 ngã về phía trước. L lao đến đâm L1 tiếp thì L1 đ ng dậy b chạy nên được anh Phạm Văn N cùng một số người làm chung can ngăn thì L dừng lại. L1 được đưa vào Bệnh viện Quận 2, tại đây sơ c u xong rồi chuyển lên Bệnh viện nhân dân Gia Định cấp c u. Sau khi gây án, L v t cây kéo vào sát lề đường trong khuôn viên c a Chung cư Imperia và đón xe Grap về nhà.

Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2 tiến hành khám nghiệm hiện trường, trích xuất camera, ghi lời khai, bắt giữ Trần Hữu L để điều tra, xử lý về tội Cố ý gây thương tích . Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Lộc khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 305/TgT.20 ngày 15/4/2020 c a Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận ba vết thương vùng hông lưng trái gây th ng đ t da, th ng lách, có một vết thương gây m sương sườn, tỉ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 28%. Các thương tích do vật sắc nhọn tác động gây ra, cây kéo như quí cơ quan cung cấp gây ra được các thương tích trên.

Tại bản kết luận giám định pháp y về AND số 1.0 2-2020/AND ngày 1 / /2020 c a Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Hồ sơ AND m u vết nâu trên phần lư i c a cây kéo đ làm cơ sở, so sánh đối chiếu AND c a Nguyễn Xuân L1 có hiện diện trong m u vết nâu trên phần lư i c a cây kéo.

Vật ch ng thu giữ: 01 cây kéo dài khoảng 20 cm, có cán nhựa màu đ dài 0,7 cm, lư i kéo màu trắng dài khoảng 13cm.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình và bị cáo Trần Hữu L đã bồi thường cho anh Nguyễn Xuân L1 số tiền 30.000.000 đồng mà anh L1 yêu cầu, anh L1 đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi c a mình như trên, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác.

Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSQ2 ngày 06/5/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân quận 2 đã truy tố bị cáo Trần Hữu L về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Đây là vụ án cố ý gây thương tích do Trần Hữu L vào khoảng 12 giờ 42 phút ngày 03/ /2020, tại trước tại trước chốt bảo vệ Chung cư Imperia, Khu phố , phường An Phú, Quận 2. Trần Hữu L đã dùng cây kéo đâm anh L1 gây thương tích là 28 . Hành vi c a L đã xâm phạm đến s c kh e c a người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tặng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên Tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo, gia đình bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại và đã được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 v n giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 1 4; điểm b, s khoản 1 Điều 1; Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa và nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi người bị hại, bị cáo rất ăn năn hối hận xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các ch ng c và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi:

Quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hữu L đã thừa nhận đã có hành vi dùng cây kéo gây thương tích cho anh L1 với tỷ lệ thương tật là 28%.

Lời khai c a bị cáo phù hợp với lời khai c a bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định ... và phù hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đ cơ sở kết luận hành vi c a bị cáo đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 1 4 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 như kết luận c a Kiểm sát viên.

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, xâm phạm tinh thần, s c kh e c a công dân, được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang dao động trong quần chúng tại địa phương. Chỉ từ một mâu thu n nh t c giận nhất thời mà bị cáo đã có cách hành xử để giải quyết mâu thu n b ng cách dùng cây kéo sắt đâm vào người bị hại gây thương tích đến 28%, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, s c kh e c a người khác. Cách giải quyết mâu thu n và hành xử c a bị cáo là không thể chấp nhận và đã vi phạm pháp luật, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với m c án nghiêm khắc như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:

Hành vi c a bị cáo là dùng hung khí nguy hiểm và gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật đến 28%. Đây là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 1 4 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017, nên cần phải áp dụng để xử phạt bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo, gia đình bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại và đã được bị hại làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 201 , sửa đ i, b sung năm 2017, nên áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

Đối với: 01 cây kéo dài khoảng 20 cm, có cán nhựa màu đ dài 0,7 cm, lư i kéo màu trắng dài khoảng 13cm, xét đây là tang vật c a vụ án và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu h y.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định c a pháp luật.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội Cố ý gây thương tích .

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 1 4; điểm b, s khoản 1 Điều 1; Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 201 , sửa đ i, b sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Hữu L 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/3/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 201 sửa đ i, b sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu h y: 01 cây kéo dài khoảng 20 cm, có cán nhựa màu đ dài 0,7 cm, lư i kéo màu trắng dài khoảng 13cm.

(Theo Quyết định chuyển vật ch ng số 19/QĐ-VKSQ2 ngày 03/6/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân Quận 2).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 1 , 1 6 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 26/2016/UBTVQH14 ngày 0/12/2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 0 Luật Thi hành án dân sự .

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 1 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 1 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ