- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Dương T.H 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 30/2020/HSST Ngày 02 tháng 03 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy
2. Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, Tòa án nhân dân quận B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/TL - HSST ngày 05 tháng 02 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với:
* Bị cáo Dương T.H, sinh năm: 1988; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: phường L, quận B, thành phố H. Nghề nghiệp: Không. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Dương Văn K (Sinh năm 1964). Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T.M (Sinh năm 1965). Bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Họ và tên chồng: Vũ Đức Thắng (Sinh năm: 1987). Bị cáo có 03 con sinh năm 2012, năm 2013 và năm 2018. Tiền sự: Không; Tiền án: 03 tiền án; Ngày 28/06/2016, Tòa án nhân dân quận T xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 4.200.000 đồng). Ra trại ngày 26/10/2016; Ngày 25/04/2019, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 32.162.400 đồng), 08 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (trị giá tài sản 235.460.000 đồng). Tổng hợp hình phạt buộc Dương T.H phải chấp Hnh chung cho cả 2 tội là 10 năm tù. Dương T.H thực hiện Hnh vi phạm tội từ ngày 26/05/2017 đến ngày 29/07/2018. Bị cáo chưa thi Hnh hình phạt tù của bản án trước; Ngày 18/10/2019, Tòa án nhân dân quận T xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 5.300.000 đồng). Dương T.H thực hiện Hnh vi phạm tội ngày 10/03/2019. Tổng hợp với bản án ngày 25/04/2019, Dương T.H phải chấp Hnh chung cho cả 2 bản án là 10 năm 10 tháng tù; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/09/2019. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Chị Nguyễn K H, sinh năm 1998; Hộ khẩu thường trú: Số 49 khu 3 thị trấn Hồi Xuân, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và địa chỉ: phường C, quận Bắc Từ Liêm, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Phạm Kiều T, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: xã Quyết Thắng, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và địa chỉ: quận C, thành phố H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: phường C, quận L, thành phố H. Cơn đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 03/2019 đến tháng 09/2019, Dương T.H đã 03 lần thực hiện Hnh vi phạm tội như sau:
Lần 1: Ngày 27/03/2019, Dương T.H một mình đến cửa Hng “Dế bạc” tại, phường K, quận B, thành phố H để mua vòng đeo tay. Tại đây, H gặp chị Nguyễn K H (sinh năm: 1998; Nơi ở: phường C, quận L, thành phố H – là nhân viên cửa Hng). Quá trình mua Hng, H phát hiện trên mặt bàn kính trước mặt có 01 chiếc túi vải màu nâu. Lợi dụng lúc chị Nguyễn K.H không để ý, H dùng tay phải lấy chiếc túi giấu vào trong người rồi bỏ đi khỏi cửa Hng. Sau khi trộm cắp được chiếc túi, H kiểm tra bên trong túi có 2.736.000 đồng và 03 chiếc vòng đeo tay bằng bạc. H đã chi tiêu hết 2.736.000 đồng vào việc cá nhân còn chiếc túi vải và 03 vòng đeo tay H không nhớ để ở đâu (hiện không thu hồi được).
Bản kết luận định giá tài sản số 90/22.11.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận B, kết luận: 03 chiếc vòng đeo tay bằng bạc có trị giá 300.000 đồng; 01 túi vải màu nâu có trị giá 20.000 đồng.
Lần 2: Ngày 09/05/2019, Dương T.H một mình đi xe máy đến cửa Hng Vân Chi, địa chỉ tầng 01 tòa B5 làng quốc tế Thăng Long, quận C, thành phố H mục đích chiếm đoạt tài sản. Tại đây, H gặp chị Phạm K.T (sinh năm: 1997; Nơi ở: quận C, thành phố H – là nhân viên cửa Hng). Sau khi chọn đồ, H lấy lí do không mang đủ tiền nên đã nhờ chị T đi cùng H và chuyển số Hng vừa mua đến cổng bệnh viện Phụ sản H. Chị T đồng ý, chia số Hng thành 04 túi, 01 túi H cầm còn 03 túi treo trên xe chị T. Đến nơi, H yêu cầu chị T đưa 03 túi Hng còn lại rồi nói sẽ đi vào bên trong lấy tiền để trả nhưng chị T không đồng ý, yêu cầu H trả đủ tiền rồi nhận Hng. Thấy vậy, H bảo chị T đứng đợi đồng thời H điều khiển xe máy vào trong bệnh viện Phụ Sản và bỏ trốn, trên xe H vẫn đang treo 01 túi Hng. 01 túi Hng H chiếm đoạt được bên trong gồm: 01 chai sữa tắm nhãn hiệu Tetesept, 01 khăn tắm nhãn hiệu Moliss, 01 hộp kẹo Socola Nga, 02 gói bánh Nhật, 01 bộ bấm móng tay nhãn hiệu Three seven, 02 hộp kẹo cao su Mỹ. H đã tự nguyện giao nộp 01 bộ bấm móng tay và 01 khăn tắm. Số tài sản còn lại, H đã sử dụng hết vào mục đích cá nhân.
Bản kết luận định giá tài sản số 90/22.11.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận B, kết luận: 01 chai sữa tắm nhãn hiệu Tetesept có trị giá 100.000 đồng; 01 khăn tắm nhãn hiệu Moliss có trị giá 250.000 đồng; 01 hộp kẹo Socola Nga có trị giá 200.000 đồng; 02 gói bánh Nhật có trị giá 200.000 đồng; 01 bộ bấm móng tay nhãn hiệu Three seven có trị giá 700.000 đồng; 02 hộp kẹo cao su Mỹ có trị giá 50.000 đồng. Tổng trị giá Dương T.H lừa đảo chiếm đoạt là 1.500.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 18 giờ 15 ngày 24/09/2019, Dương T.H điều khiển xe máy BKS 29P1 – 30077 đến cửa Hng “Đồ da xịn” số 83 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận B, thành phố H để mua 01 túi đựng ipad với giá 800.000 đồng. H đưa cho chị Đỗ T.T (sinh năm: 1996; HKTT: phường C, quận Bắc Từ Liêm, thành phố H) là nhân viên cửa Hng 1.000.000 đồng. Chị T lấy 200.000 đồng trong ví để tại ngăn kéo quầy thanh toán trả lại cho H. Sau khi biết nơi chị T để ví, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H giả vờ chọn thêm 03 túi xách và nhờ chị T đóng vào thùng cát tông để mang đi. Do cửa Hng không có thùng cát tông nên H đã đưa cho chị T 50.000 đồng sang cửa Hng khác mua thùng cát tông nhằm mục đích khi chị T ra khỏi cửa Hng sẽ trộm cắp chiếc ví. Sau khi chị T đi ra khỏi cửa hàng, H tiến lại gần quầy thanh toán, dùng tay phải kéo ngăn kéo rồi tiếp tục dùng tay phải cầm chiếc ví cho vào trong túi xách H đang đeo ở vai trái. Lấy được chiếc ví, H liền đi nhanh ra khỏi cửa Hng thì đúng lúc này chị T quay lại, kiểm tra thấy chiếc ví đã bị mất nên đã chạy ra kiểm tra túi xách của H thì phát hiện chiếc ví đang ở trong túi xách. Ngoài ra, H còn bị thu giữ 01 túi da màu nâu, 01 điện thoại Iphone 6S đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0962499824, 3.750.000 đồng và 01 xe máy nhãn hiệu Piagio Liberty BKS 29P1 – 30077. Qua kiểm tra tại chỗ xác định trong chiếc ví của chị T là 790.000 đồng. Sau đó, H cùng toàn bộ vật chứng được tổ công tác Công an phường Đội Cấn đưa về trụ sở để làm rõ.
Bản kết luận định giá tài sản số 90/22.11.2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận B, kết luận: 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng có trị giá 50.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Dương T.H đã khai nhận Hnh vi phạm tội của mình, lời khai của H phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ.
Đối với tài sản Dương T.H trộm cắp tại cửa Hng “Dế Bạc”, chị Nguyễn K H không yêu cầu Dương T.H bồi thường.
Cơ quan điều tra đã trao trả 01 ví da màu nâu bên trong có 790.000 đồng cho chị Đỗ T.T. Chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Cơ quan điều tra đã trao trả 01 bộ bấm móng tay nhãn hiệu Three Seven và 01 khăn tắm nhãn hiệu Moliss cho chị Phạm K.T. Chị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Cơ quan điều tra đã trao trả 01 túi da màu nâu bên trong có 3.750.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 6S cho Dương T.H do xét thấy số tài sản trên không liên quan đến Hnh vi phạm tội của Dương T.H.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio mang BKS 29P1 – 30077 thu giữ của Dương T.H, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên Dương T.H mượn của anh Nguyễn Tuấn M (Sinh năm: 1988; HKTT: phường Ngọc K, quận B, thành phố H). Ghi lời khai anh Nguyễn Tuấn M, anh M cung cấp chiếc xe trên anh mua của một người không quen biết với giá 15.000.000 đồng. Khi mua không có giấy tờ đăng ký xe. Qua tra cứu vật chứng, chiếc xe trên hiện không nằm trong diện xe vật chứng, giám định số khung số máy là nguyên thủy, đã đăng báo để tìm chủ sở hữu nhưng hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển chiếc xe trên đến Cơ quan thi Hnh án để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 21/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Dương T.H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/03/2019 và ngày 24/09/2019, Dương T.H đã 02 lần thực hiện Hnh vi trộm cắp tài sản như sau: Ngày 27/03/2019, tại địa chỉ 647B Kim Mã, phường Ngọc K, quận B, thành phố H, Dương T.H đã trộm cắp tài sản trị giá 3.056.000 đồng của chị Nguyễn K H; Ngày 24/09/2019, tại địa chỉ cửa Hng “Đồ da xịn” số 83 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận B, thành phố H, Dương T.H đã trộm cắp tài sản trị giá 840.000 đồng của chị Đỗ T.T. Ngoài ra, ngày 09/05/2019, Dương T.H còn thực hiện Hnh vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Phạm K.T tại cửa Hng V, địa chỉ quận C, thành phố H với trị giá 1.500.000 đồng. Hnh vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương T.H về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 đến 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 8 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là từ 20 đến 28 tháng tù. Và phải cộng với 10 năm 10 tháng tù của bản án ngày 18/10/2019, Tòa án nhân dân quận T.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn K H, chị Phạm K.T, chị Đỗ T.T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.
Xử lý vật chứng: Chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio mang BKS 29P1 – 30077 thu giữ của Dương T.H tịch thu sung công quỹ nH nước.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Dương T.H đã khai nhận toàn bộ Hnh vi của mình và lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người bị hại là chị Nguyễn K H, chị Phạm K.T, chị Đỗ T.T, tuy nhiên những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, đã trình bầy nội dung sự việc và đã có lời khai tại cơ quan điều tra được thể hiện trong hồ sơ, nên việc vắng mặt người bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Dương T.H đã khai nhận Hnh vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo cơ bản thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt giữ người có Hnh vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/03/2019 và ngày 24/09/2019, Dương T.H đã 02 lần có Hnh vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của những người bị hại, như sau: Ngày 27/03/2019, tại địa chỉ 647B Kim Mã, phường Ngọc K, quận B, thành phố H, Dương T.H đã chiếm đoạt tài sản trị giá 3.056.000 đồng của chị Nguyễn K H; Ngày 24/09/2019, tại địa chỉ cửa Hng “Đồ da xịn” số 83 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận B, thành phố H, Dương T.H đã chiếm đoạt tài sản trị giá 840.000 đồng của chị Đỗ T.T. Hnh vi lén lút chiếm đoạt tài sản của những người bị hại trên đây của Dương T.H đã phạm vào tội ‘Trộm cắp tài sản’’. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài ra, ngày 09/05/2019, Dương T.H còn dùng thủ đoạn gian dối thực hiện Hnh vi chiếm đoạt tài sản của chị Phạm K.T tại cửa Hng Vân Chi, địa chỉ tầng 01 tòa B5 làng quốc tế Thăng Long, quận C, thành phố H để chiếm đoạt tài sản với trị giá 1.500.000 đồng. Hnh vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hnh vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Nhân thân bị cáo là người phụ nữ có gia đình, có 3 con còn nhỏ, đã được pháp luật giáo dục cải tạo nhiều lần. Bị cáo có 3 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm thuộc tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Qua đó thể hiện bị cáo là người khó cải tạo. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với Hnh vi của bị cáo để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo Hnh vi phạm tội của mình, thái độ tỏ ra ăn ăn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn K H, chị Phạm K.T, chị Đỗ T.T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét.
Xử lý vật chứng: Chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio mang BKS 29P1 – 30077 thu giữ của Dương T.H, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên Dương T.H mượn của anh Nguyễn Tuấn M (sinh năm: 1988; HKTT: phường Ngọc K, quận B, thành phố H). Ghi lời khai anh Nguyễn Tuấn M, anh M cung cấp chiếc xe trên anh mua của một người không quen biết với giá 15.000.000 đồng. Khi mua không có giấy tờ đăng ký xe. Qua tra cứu vật chứng, chiếc xe trên hiện không nằm trong diện xe vật chứng, giám định số khung số máy là nguyên thủy. Cơ quan cảnh sát điều tra công an quân B đã đăng báo từ ngày 18/12/2019 để tìm chủ sở hữu nhưng hiện chưa xác định được chủ sở hữu. Tuy nhiên thời gian chưa đủ một năm nên giao chiếc xe máy trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận B ®Ó tiếp tục xö lý theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.
Đối với số tiền 4.236.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung công quỹ nH nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52; Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Dương T.H 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Bị cáo Dương T.H 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự 2015.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Dương T.H chấp Hnh hình phạt của hai tội là: 24 (hai mươi bốn). Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt phải thi Hnh án.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự 2015.
Buộc bị cáo phải chấp Hnh 10 (Mười) năm 10 (Mười) tháng tù của bản án số 185/2019/HS-ST ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân quận C, thành phố H. Tổng hợp hình phạt cho cả 2 bản án là 12 (mươi hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bắt phải thi Hnh án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Căn cứ Điều 228 Bộ luật dân sự 2015; Điều 47, Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xử lý vật chứng: Giao chiếc xe máy nhãn hiệu Piagio mang BKS 29P1 – 30077 (theo biên bản giao nhận vật chứng số 68 ngày 24/02/2020) cho Công an quận B, thành phố H tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật.
Truy thu số tiền 4.236.000 (Bốn triệu, hai trăm ba mươi sáu đồng) do bị cáo phạm tội mà có.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 02 tháng 3 năm 2020. Những người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: -TAND thành phố H; -VKSND thành phố H; - VKSND quận B; - Công an quận B; - Chi cục THADS quận B; - UBND phường Liễu Giai, quận B, thành phố H; - Bị cáo; người bị hại; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Nhung THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |