- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Trí T tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: điểm c khoản 1 điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 65 BLHS.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HSST Ngày 23 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Hào.
Bà Nguyễn Thị Diệu Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Quang Sáng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: bà Lại Thị Hiền - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2020/HSST, ngày 17 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Ngô Trí T - sinh ngày 28 tháng 8 năm 1975 tại Xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 1, Xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Trí T (chết) và bà Phan Thị T; vợ: Phạm Thị S và 2 con; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 25/3/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Tạm giam: không; tạm giữ: từ ngày 01/01/2020 – 07/01/2020, bị cáo tại ngoại, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 31/12/2019 Ngô Trí T điều khiển xe ô tô khách Q BKS 61B – 207.06 (Toàn lái xe thuê cho nhà xe Q) chạy theo hướng từ TP Hồ Chí Minh về huyện Y, tỉnh Nghệ An. Khi đến quán cơm cạnh đường mòn H thuộc huyện N, tỉnh K thì dừng xe để khách xuống ăn cơm. Lúc này có 1 người đàn ông không rõ lai lịch tiến đến hỏi T “anh có mua pháo về dùng không” T trả lời “có” và hỏi giá bao nhiêu thì người đàn ông đáp “pháo 49 quả giá 200.000 đồng/bánh, còn 36 quả giá 150.000 đồng/bánh”. Toàn đồng ý mua 3 bánh pháo 36 quả và 2 bánh pháo 49 quả. Một lát sau người đàn ông đưa cho T 1 túi ni lông màu đen bên trong chứa 5 bánh pháo, T giao cho người này số tiền 850.000 đồng và tiếp tục khởi hành về Nghệ An. Khi xe về đến khu vực chợ Rộc thuộc xóm 6, Xã T, huyện Y thì Toàn xuống xe và mang theo túi ni lông bên trong có chứa 5 bánh pháo nói trên đi bộ về nhà mình ở xóm 1, xã Trung Thành thì bị tổ tuần tra Công an huyện Yên Thành kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ toàn bộ số pháo nói trên để xử lý theo quy định của pháp luật. Toàn khai số pháo nêu trên mua về cất giấu với mục đích để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán.
Cơ quan điều tra xác định tổng khối lượng 5 bánh pháo hình hộp chữ nhật thu giữ của Ngô Trí T là 7kg.
Tại kết luận giám định số 81 ngày 10/01/2020 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu vật thu giữ của Ngô Trí T gửi tới giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Tại bản cáo trạng số 34/VKS-HS ngày 12/3/2020 của VKSND huyện Yên Thành đã truy tố Ngô Trí T về tội "Tàng trữ hàng cấm" quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật xử phạt bị cáo 7-9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 14-18 tháng. Bị cáo không có tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Ngô Trí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo đã mua pháo từ một người đàn ông không quen biết 05 bánh pháo có tổng khối lượng 7,0 kg với mục đích đem về cất giấu để sử dụng trong dịp tết thì bị kiểm tra bắt giữ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 điều 191 BLHS về tội “Tàng trữ hàng cấm” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý một số loại hàng cấm, Nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển, lưu thông trên thị trường. Vì thế, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặt khác gia đình bị cáo có công với nước, có bố đẻ được tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì và hạng ba vì có thành tích xuất sắc phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, khối lượng pháo không đáng kể nên không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra phải áp dụng khoản 4 điều 191 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định, mua về với mục đích để sử dụng trong ngày tết, vì thế có thể xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án còn lại 2,2 kg pháo, xét không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ: điểm c khoản 1 điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 65 BLHS.
Xử phạt: Ngô Trí T 7(bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Giao bị cáo Ngô Trí T cho UBND Xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
[2] Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điều 46 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 2,2 kg pháo (còn lại) được niêm phong theo quy định của pháp luật.
(Số pháo nói trên hiện đang tạm gửi tại kho tang vật của Công an huyện Yên Thành. Công an huyện Yên Thành có trách nhiệm chuyển giao cho Chi cục Thi hành án huyện Thành khi án có hiệu lực pháp luật để tiêu hủy theo quy định).
[3] Án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc Ngô Trí T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Công an YT - Viện kiểm sát YT - Viện kiểm sát Tỉnh - Sở tư pháp NA - Tòa án Tỉnh - THA hình sự; - THA Dân sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu VP. | (đã ký) Phạm Văn Giang |