vanban.org

Bản án 30/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 14/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Mạnh H phạm tội "Trộm cắp tài sản"

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Mạnh H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Mạnh H phạm tội "Trộm cắp tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HSST
Ngày 14-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Phạm Thị Thơm.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Lục Văn Đông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2020/TLST-HS ngày 25/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 31/8/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Mạnh H, sinh năm1990 tại Đăk Nông; nơi cư trú: Tổ dân phố 11, thị trấn E huyện C, tỉnh Đăk Nông; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Không; con ông Võ Đình M và bà Nguyễn Thị L (đã chết); chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án 01, ngày 06/7/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đăk Lăk xử 02 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại (Bản án số 03/2016/HSST, ngày 29/01/2016 của TAND huyện Đ, tỉnh Đăk Nông), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 năm 06 tháng tù, chấp hành xong ngày 28/02/2019; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/6/2020, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Cư Jút - (Có mặt)

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1967. Địa chỉ: , thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông

- (Có mặt)

2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1991. Địa chỉ: Bon B, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông - (Có mặt)

3. Chị Hà Thị N, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông - (Có mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Phan Duy H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố 04, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông - (Vắng mặt)

2. Anh Vũ Trung H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Bon A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông - (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ, ngày 16/6/2020 bị cáo Võ Mạnh H đi bộ vào khu vực Hồ Trúc, thuộc Bon A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Khi đi ngang qua khu vực phòng bảo vệ Hồ Trúc thấy cửa bên hông mở, H nhìn vào trong thấy ông Nguyễn Bá S (là nhân viên bảo vệ Hồ Trúc) đang nằm ngủ và để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen trên giường, H lẻn vào phòng phía trước rồi lấy 01 sợi dây nhôm sau đó bẻ thành 02 đoạn, dùng 01 đoạn dây móc và vặn khóa cửa phía trước, đoạn còn lại để gần phía cửa trước; H đi vào trong phòng dùng tay phải cầm lấy điện thoại di động đồng thời lục chiếc quần dài mầu nâu bên trong có 01 ví da mầu nâu để dưới chiếc điện thoại. Khi đang lục túi quần thì ông S tỉnh dậy và nhìn thấy H, lúc này H cầm điện thoại và chiếc quần bỏ chạy ra cửa rồi dùng đoạn dây nhôm và vặn 02 vòng khóa cửa nhốt ông S lại bên trong với mục đích để ông S không đuổi theo và H tiếp tục chạy về hướng đường Nguyễn Văn L thì thấy ông S đuổi theo, khi đến đường ven Hồ Trúc thì gặp anh Phan H và anh Vũ Trung H đang đi xe máy đến, ông S nhờ anh H, H đuổi theo H, thấy vậy H chạy sang đường N’Trang Lơng rồi lấy chiếc ví da cho vào túi quần vên trái và vứt chiếc quần bên đường. Khi Võ Mạnh H chạy đến Bon U1 thì bị anh H và anh H bắt giữ giao cơ quan Công an cùng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, 01 ví màu nâu bên trong có số tiền 457.000đ và một số giấy tờ cá nhân của ông S.

Quá trình điều tra còn xác định được bị cáo H còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác tại huyện C cụ thể:

Khoảng 12 giờ ngày 03/3/2020, H đến nhà anh Nguyễn Trung K (thôn 14, xã T, huyện C) là bạn của H chơi, nhưng anh K không có nhà. H gặp gia đình K trong đó có chị Hà Thị N (là vợ em trai anh K). H ngồi chơi đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì xuống nhà vệ sinh, lúc này chị N đang tắm cho con, bố anh K cùng cháu nhỏ đang ngủ trên phòng khách, khi quay trở lại đi ngang qua phòng ngủ chị N (phòng đang mở cửa) H nhìn vào trong thấy 01 điện thoại Iphone 6 16Gb màu vàng của chị N đang sạc trên kệ cuối giường ngủ gần tủ quần áo, H đi vào trong rút dây xạc rồi cầm điện thoại bỏ đi, sau đó H mở khóa mật khẩu và sử dụng đến tháng 6 thì đem đến bán cho tiệm điện thoại Quyết Thắng (số 300 Nguyễn Tất Thành, Thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông) được số tiền 800.000đ và tiêu xài hết.

Khoảng 18 giờ, ngày 02/02/2020 H đến nhà anh Nguyễn Văn L (ở Bon U3, Thị trấn E, huyện C là chỗ quen biết của H, sau đó anh L và H ngồi nhậu trước hiên nhà, trong khi nhậu thấy anh L có sử dụng điện thoại di động Sam sung J7 pro 32Gb màu vàng, H giả vờ hỏi điện thoại anh L để gọi đồng thời xin mật khẩu để mở máy; sau khi H trả lại điện thoại thì anh L đi vào trong nhà và để chiếc điện thoại tại chỗ ngồi, nhân lúc này thấy không có ai nên H cầm điện thoại và trốn đi. Sau đó H đem bán điện thoại trên cho tiệm điện thoai H Apple trên đường Trần Hưng Đạo, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông được số tiền 1.200.000đ và tiêu xài hết.

Vật chứng của vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút thu giữ:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắng, số IME: 357196028174108, đã qua sử dụng.

- 01 ví da mầu nâu bên trong có chứng minh nhân dân, cà vẹt xe, giấy phép lái xe, bảo hiểm đều mang tên Nguyễn Bá S và số tiền 457.000đ.

- 02 đoạn dây nhôm màu bạc.

Đối với điện thoại di động Samsung J7 pro 32Gb màu vàng và điện thoại Iphone 6 16Gb màu vàng, theo lời khai của H đã bán cho tiệm điện thoại H Apple và Quyết T. Tiệm điện thoại đã bán lại nên không thu giữ được.

Đối với chiếc quần của ông Sự do H đã vứt bên đường, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại Kết luận giám định số 15/KL-HĐĐG, ngày 14/7/2020 của Hội đồng định giá huyện C, kết luận:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắng, số IME: 357196028174108, đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 16/6/2020 có giá trị 150.000đ.

- 01 (một) điện thoại di động Samsung J7 pro 32Gb màu vàng tại thời điểm ngày 02/02/2020 có giá trị 2.000.000đ.

- 01 (một) điện thoại Iphone 6 16Gb màu vàng, tại thời điểm ngày 13/3/2020 có giá trị 1.300.000đ.

Đối với chiếc quần và ví da mầu nâu do đã cũ, không còn giá trị sử dụng, ông Sự từ chối định giá.

Tổng giá trị tài sản mà Võ Mạnh H đã trộm cắp là 3.907.000đ

Bản cáo trạng số: 31/CTr-VKS ngày 25/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Võ Mạnh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng không oan. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định của Hội đồng định giá huyện C. Phần tranh luận bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo như bản cáo trạng truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắng, số IME: 357196028174108, đã qua sử dụng; 01 ví da mầu nâu bên trong có chứng minh nhân dân, cà vẹt xe, giấy phép lái xe, bảo hiểm đều mang tên Nguyễn Bá S và số tiền 457.000đ cho ông Nguyễn Bá S là chủ sở hữu hợp pháp; Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn dây nhôm màu bạc.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Bá S và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập. Buộc bị cáo Võ Mạnh H bồi thường cho chị Hà Thị N số tiền 1.300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jut, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Từ ngày 02/02/2020 đến ngày 16/6/2020, trên địa bàn huyện C, tỉnh Đăk Nông, bị cáo Võ Mạnh H (đã có 01 tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích) đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 16/6/2020 tại khu vực Hồ Trúc, thuộc Bon U3, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông, bị cáo trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắng, số IME: 357196028174108, đã qua sử dụng, có giá trị còn lại 150.000đ và số tiền 457.000đ của ông Nguyễn Bá S.

Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 03/3/2020, tại nhà anh Nguyễn Trung K ở thôn 14, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông, bị cáo trộm cắp 01 (một) điện thoại Iphone 6 16Gb màu vàng của chị Hà Thị N có giá trị còn lại 1.300.000đ.

Vụ thứ ba: Khoảng 18 giờ, ngày 02/02/2020 tại nhà anh Nguyễn Văn L ở Bon U3, Thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Nông, bị cáo trộm cắp 01 (một) điện thoại di động Samsung J7 pro 32Gb màu vàng của anh Nguyễn Văn L có giá trị còn lại 2.000.000đ.

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Võ Mạnh H đã trộm cắp là 3.907.000 đồng.

Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ. Mặt khác, bị cáo đã có 01 tiền án về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", chấp hành xong ngày 28/02/2019, chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Từ ngày 02/02/2020 đến ngày 16/6/2020, bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị còn lại là 3.907.000đ. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp "Tái phạm", do vậy, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo giáo dục thành người có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng: Cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắng, số IME: 357196028174108, đã qua sử dụng; 01 ví da mầu nâu bên trong có chứng minh nhân dân, cà vẹt xe, giấy phép lái xe, bảo hiểm đều mang tên Nguyễn Bá S và số tiền 457.000đ cho ông Nguyễn Bá S là chủ sở hữu hợp pháp;

Xét 02 đoạn dây nhôm màu bạc của ông S bị hư hỏng, không có giá trị sử dụng, ông S từ chối định giá và ông Sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy nên tịch thu tiêu hủy 02 đoạn dây nhôm màu bạc.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 589 BLDS năm 2015: Buộc bị cáo Võ Mạnh H bồi thường cho chị Hà Thị N số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng); Ông Nguyễn Bá S và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Mạnh H phạm tội "Trộm cắp tài sản"

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Võ Mạnh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/6/2020).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, bàn phím số màu trắng, số IME: 357196028174108, đã qua sử dụng; 01 ví da mầu nâu bên trong có chứng minh nhân dân, cà vẹt xe, giấy phép lái xe, bảo hiểm đều mang tên Nguyễn Bá S và số tiền 457.000đ cho ông Nguyễn Bá S là chủ sở hữu hợp pháp;

Tịch thu tiêu hủy 02 đoạn dây nhôm màu bạc (đặc điểm có trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút và Chi cục thi hành án huyện C ngày 07 tháng 9 năm 2020).

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 589 BLDS năm 2015: Buộc bị cáo Võ Mạnh H phải bồi thường cho chị Hà Thị N số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng); Ông Nguyễn Bá S và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất qui định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Võ Mạnh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ