- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Xuân Q Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày: 30/10/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Phúc và bà Nguyễn Thị Trà Giang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên tòa: Ông Đinh Công Thành - kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2020/TLST - HS ngày 26/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2020/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Xuân Q. Giới tính : Nam; Tên gọi khác : Không; Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1993 tại huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Thôn Dịch Diệp, xã Trực Chính, huyện T, tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Vũ Xuân C. Họ và tên mẹ: Vũ Thị H, sinh năm 1968. Anh chị em: gia đình có 03 anh em, bị can là con đầu. Vợ con: Chưa có. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Bị cáo Vũ Xuân Q bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2020 cho đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh Nghệ An. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: xóm Đông Thịnh, xã Khánh Hợp, huyện N, tỉnh N.
- Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1993
Địa chỉ: khối 1, phường Thu Thủy, thị xã C, tỉnh N.
Những người bị hại đều vắng mặt.
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980
Địa chỉ: khối Đ, phường N, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Chị PH H Y, sinh năm 1981
Địa chỉ: khối 2, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
- Chị Hoàng Thị Bích L, sinh năm 1980
Địa chỉ: khối 1, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
- Anh Lê Ngọc M, sinh năm 1981
Địa chỉ: khối 1, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
- Bà Hồ Thị H, sinh năm 1961
Địa chỉ: khối 2, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
- Chị Hồ Thị L, sinh năm 1995
Địa chỉ: khối 2, phường T, thị xã C, tỉnh Nghệ An.
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10 tháng 8 năm 2020,Vũ Xuân Q sinh năm 1993, trú tại thôn Dịch Diệp, xã Trực Chính, huyện T, tỉnh N thuê phòng 203, khách sạn T, khối 1, phường T, thị xã Cửa Lò để nghỉ dưỡng và kiếm việc làm. Trong quá trình tìm việc làm, biết dự án Vinpearl Cửa Hội là khu du lịch lớn, Q nảy sinh ý lừa tuyển lao động để nhằm chiếm đoạt tài sản. Q lên mạng, tìm hiểu tài liệu về Vinpearl Cửa Hội, các loại công việc, sau đó đi đến quán nước nói với chị Hoàng Thị B L và nói với nhân viên khách sạn T, giả mạo mình là nhân viên giám sát kỹ thuật của tập đoàn Vingroup, cần tuyển 50 lao động làm bếp, cây xanh, điện, lương tháng từ 8 đến 15 triệu. Để xin việc, Q yêu cầu nộp hồ sơ cùng 4,6 triệu phí hồ sơ. Q cho số diện thoại của Q cho chị L và nhân viên khách sạn để giới thiệu người nhà. Để tạo lòng tin, Q lên mạng tập hợp tài liệu, sau đó lên Thành phố Vinh, vào một quán phô tô in màu tập tài liệu về Vinpearl Cửa Hội, mục đích ai tìm hiểu hoặc đến nộp hồ sơ thì Q sẽ đư ra cho xem, giới thiệu để tạo lòng tin.
Ngày 24 tháng 08 năm 2020, Q nhận 04 hồ sơ của Nguyễn Thị T, Hoàng Thị Bích L, Phạm H Y và Lê Ngọc Minh. Do bốn người trên không nộp tiền nên Q đã xé hai hồ sơ, trả lại hai hồ sơ cho Hoàng Thị Bích L và Phạm H Y.
Ngày 25 tháng 8 năm 2020, chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1972, xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1993, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, Nghệ An đến gặp Vũ Xuân Q tại khách sạn Tuấn Anh để nộp hồ sơ xin việc. Tại đây, Vũ Xuân Q hướng dẫn chị L và anh H làm hồ sơ xin việc và yêu cầu nộp kèm số tiền 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, anh Nguyễn Hữu H cùng mẹ là bà Hồ Thị H đến nộp hồ sơ và số tiền 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) cho Vũ Xuân Q tại phòng bếp khách sạn Tuấn Anh. Vũ Xuân Q hứa hẹn với anh H ngày 04 tháng 09 năm 2020 đến Vinpearl Cửa Hội nhận công việc kỹ sư điện, mức lương 15 triệu đồng/ 1 tháng. Cùng ngày, chị Nguyễn Thị L cùng chị Hồ Thị L đến gặp Vũ Xuân Q, nộp hồ sơ và số tiền 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng), Q đồng ý cho chị L trả số tiền còn lại bằng việc trừ vào tháng lương đầu tiên. Q hứa hẹn với chị L làm phụ bếp, mức lương 15 triệu đồng/ 1 tháng. Trong khi Vũ Xuân Q đang thực hiện hành vi lừa đảo thì bị tổ công tác Công an thị xã Cửa Lò phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 337/KL-PC09(Đ3) ngày 03/09/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An xác định: Số tiền 7.200.000 đ (bảy triệu hai trăm ngàn đồng) thu giữ là tiền thật, do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) bộ hồ sơ đề tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1972, trú tại xóm Khánh Đông, xã Khánh Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An (chuyển theo hồ sơ vụ án).
- 01 (Một) bộ hồ sơ đề tên Nguyễn Hữu H, sinh năm 1993, trú tại Khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, Nghệ An (chuyển theo hồ sơ vụ án).
- 01(Một) tập tài liệu Vinpearl Resort & Villas Cửa Hội Nghệ An (chuyển theo hồ sơ vụ án).
- 01(Một) điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, số Imei: 35389210553726 thu giữ của Võ Xuân Q.
- 01 (Một) thẻ Viettel mang tên Vũ Xuân Q, kiểm soát kỹ thuật số 78263226 (chuyển theo hồ sơ vụ án).
- Số tiền 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Cửa Lò trả lại cho chủ sở hữu
Về dân sự: Bị hại trong vụ án là chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hữu H đã nhận lại tài sản, đến nay không yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-TXCL ngày 15/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố Vũ Xuân Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Vũ Xuân Q từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về vật chứng, án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã Cửa Lò, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
. Về việc vắng mặt của bị hại và người làm chứng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho bị hại và người làm chứng; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ, bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Xét, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, và những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại phòng 203, khách sạn Tuấn Anh thuộc khối 1, phường Thu Thủy, thị xã Cửa Lò, Vũ Xuân Q đã có hành vi mạo danh là giám sát kỹ thuật tập đoàn Vingroup, lừa tuyển nhân viên lao động cho dự án Vinpearl Resort & Villas Cửa Hội để tạo lòng tin, chiếm đoạt số tiền 4.600.000 đồng của anh Nguyễn Hữu H và 2.600.000 đồng của chị Nguyễn Thị L. Tổng giá trị tài sản Vũ Xuân Q chiếm đoạt là 7.200.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Vũ Xuân Q đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Về tính chất vụ án, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối lừa chạy việc nhằm chiếm đoạt tiền của những người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nói riêng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội nói chung. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn thực hiện tội phạm nhằm mục đích vụ L. Bản thân bị cáo đang bị Công an thành phố Thái Bình khởi tố điều tra về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cần lên một mức án nghiêm khắc và áp dụng hình phạt tù để nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Xuân Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện việc lừa đảo đối với 2 người với số tiền cả 2 lần đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo pH chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Hữu H đã nhận lại tài sản, đến nay không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng:
- 01(Một) điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, số Imei: 35389210553726 thu giữ của Võ Xuân Q là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với các phong bì và túi niêm phong không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Vũ Xuân Q 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 26/8/2020).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01(Một) điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, số Imei: 35389210553726 thu giữ của Võ Xuân Q.
- Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong có mã số NA3A 108354; 01 vỏ phong bì thư bưu điện và vỏ túi niêm phong mã số NS3A 108347 được bỏ vào vỏ túi niêm phong mã số PS3A 108391; 01 vỏ túi niêm phong mã số NS3A 108348 được bỏ vào túi niêm phong mã số PS3A 108398.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày 19/10/2020).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Xuân Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Xuân Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND thị xã Cửa Lò; - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò; - Công an thị xã Cửa Lò; - Bị cáo; bị hại; - UBND xã Trực Chính, h. Trực Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trà Giang |