- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? 1 - Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------------- Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày 12/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Văn Thưởng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Mộc
Bà Trịnh Thị Kim Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh- Thư ký Tòa án tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Phương Chi- Kiểm sát viên;
Ngày 12 tháng 05 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2020; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993, tại: huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Công nhân. Nơi cư trú: Bản P, xã G, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Con ông: Lò Văn V, sinh năm: 1960. Con bà: Lò Thị C, sinh năm: 1962. Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/12/2019, đến ngày 02/01/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (Có mặt)
2. Người chứng kiến:
Anh Lương Văn H, sinh năm 1993; Ông Đào Văn T, sinh năm 1971; và ông Nguyễn Văn T1; (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 30/12 /2019 tại ngã tư Ba Hàng thuộc xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Hưng Yên bắt quả tang Lò Văn H sinh năm 1993, HKTT Bản P, xã G, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT -Công an tỉnh Hưng Yên đã thu giữ tại túi quần bên phải của Lò Văn H đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có túi nilon màu trắng chứa chất màu trắng đục dạng cục và bột (được niêm phong ghi số 1), và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của Lò Văn H ở Công trường xây dựng tòa nhà bảo hiểm tỉnh Hưng Yên thuộc phường Hiến Nam, TP. Hưng Yên không thu giữ gì.
Bản kết luận giám định số 53/PC09 ngày 02/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Chất màu trắng đục dạng cục và bột trong niêm phong ghi số 1 có khối lượng 0,733 gam là ma túy loại Heroin.
Lò Văn H khai nhận đã mua số ma túy trên của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi tại khu chợ ngã tư Ba Hàng, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/12/2020, H không biết người phụ nữ này là ai. H mua số ma túy trên với giá 400.000 đồng. H để số ma túy ở túi quần bên phải đã bị bắt quả tang. Hiện chưa có căn cứ xử lý người phụ nữ bán ma túy cho H.
Bị cáo Lò Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng;
- 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 53/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
- 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có lắp một sim liên lạc trên sim có chữ Mobifone.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-P1 ngày 12/3/2020 của VKSND tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Lò Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lò Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin H đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, đại diện VKS đề nghị H đồng xét xử, tuyên bố: Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy niêm phong trong 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 53/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hưng Yên; Trả lại bị cáo H 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có lắp một sim liên lạc trên sim có chữ Mobifone. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hưng Yên; phù hợp khách quan với lời khai của người chứng kiến là Anh Lương Văn H, Ông Đào Văn T và ông Nguyễn Văn T1; cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ; Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 30/12/2019 tại ngã tư Ba Hàng thuộc xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, Lò Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,733 gam ma túy loại Heroin với mục đích để sử dụng, đã bị Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hưng Yên phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi tàng trữ trái phép 0,733 gam ma túy loại Heroine để sử dụng của bị cáo đã vi phạm pháp luật, đủ cấu thành tội phạm quy định tại Bộ luật hình sự; Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội và gây sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và hệ lụy hết sức nặng nề của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với trí lực, thể lực cũng như kinh tế của của chính gia đình bản thân người nghiện và xã hội nhưng vẫn phạm tội. Vì vậy, cần xét xử vụ án nghiêm minh, dành cho bị cáo một hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có tài sản gì lớn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn trả lại mẫu vật sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
- Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có lắp một sim liên lạc trên sim có chữ Mobifone. Quá trình điều tra xác định H dùng điện thoại chỉ để liên lạc chứ không dùng vào mục địch phạm tội; Do đó cần trả lại cho bị cáo H điện thoại như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
[6]. Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1 - Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 01(một) năm 06(sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2019.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2 - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định số 53/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên.
- Trả lại cho bị cáo: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh đã qua sử dụng, bên trong có lắp một sim liên lạc trên sim có chữ Mobifone.
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng được thể hiện theo Quyết định chuyển vật chứng số số 11/QĐ-VKS-P1 ngày 12/3/2020 của VKS tỉnh Hưng Yên).
3 - Về án phí: Bị cáo Lò Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4 - Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Mộc
Trịnh Thị Kim Phương
Trần Văn Thưởng
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Cq. CSĐT(PC04)- CA tỉnh Hưng Yên; - Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Trại tạm giam- CA tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP, THS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thưởng |