- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Anh T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Anh T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày 07-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Minh Hằng
Bà Dương Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Anh T, sinh ngày 16 tháng 01 năm 1968 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 56 đường Nguyễn Hồng Q, phường T, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) và bà Ngô Thị P; có vợ là Vũ Thị H và có hai con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 73/2008/HSST ngày 18/9/2008, Trần Anh T bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12/5/2020 đến ngày 16/5/2020 chuyển áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Nguyễn Mạnh Hà, anh Vũ Thành Nam, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/5/2020, Trần Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen vàng - BKS 15B1 - 51961 đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, TP Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 500.000 đồng Heroine với mục đích đem về sử dụng cho bản thân. Người đàn ông này nhận tiền rồi đưa cho T 03 gói giấy trong đựng Heroine. T cất 03 gói giấy chứa Heroine vừa mua vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng Đình Vũ, phường Đông Hải 2, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đang ở khu vực gầm cầu vượt Nguyễn Bỉnh Khiêm - Đình Vũ thuộc Tổ dân phố Bình Kiều 2, phường Đông Hải 2, quận Hải An, TP Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phường Đông Hải 2 T hành kiểm tra, T tự nguyện giao nộp 03 gói Heroine và khai nhận đó là số Heroine mua về để sử dụng. Lực lượng Công an đã thu giữ toàn bộ tang vật và đưa T về trụ sở Công an phường Đông Hải 2 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận giám định số 258/KLGĐ Phòng Kỹ thuật Hình sự- Công an thành phố Hải Phòng ngày 12/5/2020 kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,57 gam và loại Heroine.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Anh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An giữ quyền công tố luận tội:
Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Anh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 249 và điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh T nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Trần Anh T đã có hành vi mua ma túy rồi cất giấu với mục đích để sử dụng. Số ma túy thu giữ trên người T là Heroin, có khối lượng là 0,57 gam. Heroine là loại ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội, nằm trong Danh mục I, STT 9 ban hành kèm theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Anh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Trước lần phạm tội này bị cáo đã từng có 01 tiền án, tuy đã được xóa án tích nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có anh trai là Liệt sỹ và hiện đang phải nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ Liệt sỹ già yếu và thờ cúng Liệt sỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Aiblade BKS 15B1-51961, số khung RLHJF2709BY51475 và số máy JF27E-1454492, qua điều tra xác định chủ xe là anh Hoàng Phương Nam – sinh năm 1986, địa chỉ: số 5/36 Phố Cấm, phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng. Chị Vũ Thị Hợp khai nhận đã mua của anh Nam nhưng hiện nay chưa xác định được nơi ở và không làm việc được với anh Nam nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý sau.
Trong vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho T nhưng chưa xác định được đối tượng nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Anh T 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/5/2020 đến ngày 16/5/2020.
2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Anh T.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2, Điều 106 của Bô luật Tố tụng hình sự; khoản 1, Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong bì thư có dấu hiệu niêm phong số 258/2020 /PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng ngày 12/5/2020 (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Anh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Cường Dương Thị Hồng Vân Nguyễn Minh Hằng
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND quận Hải An;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- CQCSĐT - Công an quận Hải An;
- CQTHAHS - Công an quận Hải An;
- PV06 - Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Chi cục THADS quận Hải An;
- Trại tạm giam - Công an TP. Hải Phòng;
Nguyễn Ngọc Cường
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Cường Nguyễn Văn Hiếu Nguyễn Minh Hằng
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hải An; - VKSND thành phố Hải Phòng; - CQCSĐT - Công an quận Hải An; - CQTHAHS - Công an quận Hải An; - PV06 - Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Hải An; - Trại tạm giam - Công an TP. Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Cường THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bình TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Bích Diệp |