vanban.org

Bản án 30/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 13/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Thị Ng 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thị Ng cho Ủy ban nhân dân phường VT - thành phố NT - tỉnh Khánh Hòa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Ng “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thị Ng 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HS-ST
Ngày: 13 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Công Đa

Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Nguyễn Hồng;

. Ông Võ Đình Cháu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Thị Ng - sinh năm 1968, tại NT - Khánh Hòa; nơi cư trú 1170/94 đường 2/4 - phường VT - thành phố NT - tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tr (chết) và bà Đào Thị B; có chồng là ông Nguyễn Văn T và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án - tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại:

Chị Lê Thị Th - sinh năm 1984; trú tại thôn TP - xã VP - huyện V - tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, Ng vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1965; trú tại 1170/94 đường 2/4 - phường VT - thành phố NT - tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/3/2020, Lê Thị Ng một mình điều khiển xe mô tô biển số 79N2 - 467.75 đi từ thành phố NT đến Chợ V để tìm người phụ nữ tên X đòi tiền nợ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi không gặp được người tên Xuân, Ng điều khiển xe mô tô đi trên đường Lê Hồng Ph - thị trấn VG theo hướng Tây - Đông. Khi đến cửa hàng bán giày “Sun” nằm bên trái hướng đi thuộc tổ dân phố số M - thị trấn VG - huyện V, Ng thấy trên vỉa hè có chị Lê Thị Th đang ngồi bán khoai sáp nên dừng lại mua. Sau khi chọn khoai xong, thì Ng đưa cho chị Th cân và gọt vỏ giùm, do thấy bên trái chị Th có một giỏ nhựa lớn đựng khoai nên Ng đi đến tiếp tục lựa chọn. Lúc này, Ng thấy bên cạnh chị Th có 01 bịch nilon màu xanh lá cây, bên trong có 01 ví da màu nâu, do nghĩ bên trong ví da có tiền nên Ng nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc chị Th không để ý đến tài sản Ng trộm cắp ví da này cất vào túi áo khoác bên trái rồi nói với chị Th đi công việc và sẽ quay lại lấy số khoai đã mua.

Tiếp đó, Ng điều khiển xe mô tô biển số 79N2 - 467.75 đi đến khu vực “Ga Giã”, Ng lấy ví da ra kiểm tra thì phát hiện bên trong có 02 xấp tiền gồm 01 xấp có mệnh giá từ 20.000đồng đến 50.000đồng và 01 xấp có mệnh giá 100.000đồng, 200.000đồng và 500.000đồng. Tổng cộng là 5.000.000đồng. Ng cất tiền vào túi áo khoác bên trái, ví da cất vào túi áo khoác bên phải và đi về lại NT. Trên đường đi, Ng vứt bỏ ví da vào bụi cây bên đường của Quốc lộ 1 nằm bên phải hướng đi (không xác định được vị trí cụ thể), còn số tiền trộm cắp được Ng đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, hành vi phạm tội của Lê Thị Ng bị cơ quan công an phát hiện và Ng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 34/2020/KL - TTHS ngày 17 tháng 4 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V - tỉnh Khánh Hòa kết luận chiếc ví da màu nâu, loại 02 ngăn kéo, kích thước (17 x 18)cm bị trộm cắp có giá trị là 21.000đồng.

. Chị Lê Thị Th đã được Lê Thị Ng bồi thường 7.000.000đồng. Chị Th không còn yêu cầu gì khác, đồng thời có đơn bãi nại và xin không truy cứu trách nghiệm hình sự đối với Lê Thị Ng.

. Chiếc xe mô tô biển số 79N2 - 467.75 đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh trả lại cho ông Nguyễn Văn T.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT - VKSVN ngày 12 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Lê Thị Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thị Ng theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b - h - i - s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, tuy vắng mặt bị hại là chị Lê Thị Th và vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T nhưng bị cáo không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt của những người này. Đồng thời, những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Vì vậy, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, Ng vụ liên quan không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Ng đã khai nhận hành vi của mình thực hiện việc trộm cắp ví da bên trong có tiền của chị Lê Thị Th như nội dung bản Cáo trạng số 34/CT - VKSVN ngày 12 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận khoảng 09 giờ 30 ngày 12/3/2020, tại vỉa hè đường Lê Hồng Ph thuộc tổ dân phố số M - thị trấn VG - huyện V - tỉnh Khánh Hòa, Lê Thị Ng đã có hành vi trộm cắp 01 ví da màu nâu, bên trong có 5.000.000đồng của chị Lê Thị Th. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 5.021.000đồng (năm triệu không trăm hai mươi mốt nghìn).

Theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”

Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Thị Ng trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Th có trị giá như trên là đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Lê Thị Ng đã xâm hại quyền sở hữu về tài sản của người khác và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Nên cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội có tính chất bộc phát, nhất thời; không có tiền án - tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; bị hại có đơn bãi nại và đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b - h - i - s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; đồng thời, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và ngăn ngừa các hành vi tương tự.

Chị Lê Thị Th khai số tiền chị bị Lê Thị Ng trộm cắp là 7.000.000đồng nhưng bị cáo Ng chỉ thừa nhận số tiền trộm cắp là 5.000.000đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất nhưng không chứng minh được số tiền bị mất là 7.000.000đồng nên không có cơ sở xác định số tiền chị Th bị mất là 7.000.000đồng như chị Th khai.

Xe mô tô biển số 79N2 - 467.75 là xe của ông Nguyễn Văn T chủ sở hữu, ông T cho Lê Thị Ng mượn đi công việc. Sau khi Ng trộm cắp tài sản của chị Th thì sử dụng xe này để chạy thoát. Ông T không biết việc trên nên không có cơ sở xử lý đối với ông T.

Về trách nhiệm dân sự:

- Tại phiên tòa, tuy bị hại chị Lê Thị Th vắng mặt nhưng căn cứ lời khai của chị Th có tại hồ sơ vụ án thì chị Th đã được bị cáo Ng bồi thường 7.000.000đồng. Chị Th không còn yêu cầu bồi thường hoặc còn có yêu cầu gì khác, nên Tòa không xem xét.

- Tại phiên tòa, tuy người có quyền lợi, Nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T vắng mặt, nhưng căn cứ lời khai của ông T có tại hồ sơ vụ án thì ông T không yêu cầu bị cáo Ng phải bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe mô tô biển số 79N2 - 467.75, nên Tòa không xem xét.

- Về án phí:

Bị cáo Lê Thị Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, với số tiền là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b - h - i - s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Lê Thị Ng.

- Xử phạt bị cáo Lê Thị Ng 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Thị Ng cho Ủy ban nhân dân phường VT - thành phố NT - tỉnh Khánh Hòa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm Ng vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Không xét về việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm giữa bị cáo Lê Thị Ng đối với chị Lê Thị Th và đối với ông Nguyễn Văn T.

- Về án phí:

Bị cáo Lê Thị Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn).

- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, Ng vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ