- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Khắc H - 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày: 21 – 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Ngọc Sanh
2. Ông Vũ Bá Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường xét xử A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/TLST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Khắc H, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1986 tại tỉnh Q; Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Q; Nơi đã cư trú: khu phố T, thị trấn D, huyê ên T, tỉnh Đồng Nai; Quận 8, thành phố Hồ chí Minh; huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Thợ hàn; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Không xác định; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T (đã chết). Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 22/3/2005 Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2004. Chấp hành xong hình phạt ngày 19/12/2007, phần án phí đến nay chưa thi hành (Theo bản án số 377/HSPT)
Tiền sự:
- Ngày 20/9/2016, Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền: 2.500.000 đồng) về hành vi “Cố ý gây thương tích” (Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69/QĐXPHC – ĐCA), đến nay chưa thực hiện.
- Ngày 14/3/2017, Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền: 1.500.000 đồng) về hành vi “Đánh bạc” (Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐXPHC – ĐCA).
Nhân thân: Ngày 20/5/2011 Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 02 (hai) năm 06 (sau) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/5/2013 (Theo bản án số 67/2011/HSST).
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Thống Nhất từ 21/12/2019 đến nay. Bị cáo có mặt
* Bị hại:
Anh Đào Thanh T, sinh năm: 1977; địa chỉ cư trú: Tổ 10, khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Trương Văn T, sinh năm: 1987; địa chỉ cư trú: Ấp 5, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú hiện nay: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
* Người làm chứng: Anh Doãn Quốc N, sinh năm: 1997; địa chỉ cư trú: Tổ 19, ấp 6, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Khắc H làm nghề thợ hàn tại tiệm cửa sắt T (khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai) do anh Đào Thanh T làm chủ. Để thuận tiện cho công việc, anh T đã giao 01 chìa khóa cửa tiệm sắt Thanh T cho Nguyễn Khắc H quản lý, sử dụng.
Vào khoảng 12 giờ trưa ngày 13/12/2019, Nguyễn Khắc H điều khiển xe mô tô biển số 72C1-218.44 đến tiệm cửa sắt Thanh T, thấy anh T là chủ tiệm đi công việc, không có người trông coi tài sản, Nguyễn Khắc H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Nguyễn Khắc H sử dụng chìa khóa cửa được anh T giao cho sử dụng trước đó mở cửa vào trong tiệm lấy trộm 03 (ba) máy khoan hiệu Makita, 01 (một) máy đục hiệu Makita, 02 (hai) máy mài hiệu Sencan, 01 (một) máy cắt hiệu Sencan, 01 (một) máy hàn điện tử hiệu Tân Thành và 01 (một) cuộn dây điện đôi dài 50m bỏ vào trong giỏ đan bằng nhựa để lên yên sau xe mô tô 72C1-218.44. Sau đó Nguyễn Khắc H dùng chìa khóa tiệm cửa sắt lại như cũ rồi điều khiển xe mô tô 72C1-218.44 chở số tài sản trộm cắp được đi tiêu thụ tại cửa hàng điện cơ Út Tịch thuộc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Khắc H bán được 01 (một) máy cắt hiệu Sencan, 02 (hai) máy mài hiệu Sencan, 02 (hai) máy khoan tay hiệu Makita, 01 (một) máy đục hiệu Makita cho chủ cửa hàng là anh Trương Văn T được số tiền 1.800.000 đồng. Còn lại 01 (một) máy khoan tay hiệu Makita, 01 (một) máy hàn điện tử hiệu Tân Thành và 01 (một) cuộn dây điện dài 50m Nguyễn Khắc H đã chở xuống nhà anh Doãn Quốc N gửi để làm dụng cụ phục vụ cho việc làm của H. Trên đường chở đi gửi, Nguyễn Khắc H làm rơi cuộn dây điện.
Biết hành vi phạm tội của mình đã bị camera ghi lại, ngày 21/12/2019 Nguyễn Khắc H đã đến Công an huyện Thống Nhất đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 1603/KL-HĐĐG ngày 26/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất kết luận: 03 máy khoan cầm tay màu xanh hiệu Makita; 01 máy đục chuyên dụng hiệu Makita, 02 máy mài cầm tay hiệu Sencan, 01 máy cắt hiệu Sencan, 01 máy hàn điện tử hiệu Tân Thành loại ARC 200C và 01 cuộn dây điện có chiều dài 50m loại dây đôi mềm tất cả đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 2.950.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS-TN ngày 14 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, truy tố bị cáo Nguyễn Khắc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì đối với Kết luận định giá Hội đồng định giá và khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện đúng như Cáo trạng truy tố.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại anh Đào Thanh T khai nhận: Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2019 anh đến cửa hàng cơ khí Thanh T thì phát hiện mất một số dụng cụ phục vụ sửa chữa cơ khí gồm: 03 (ba) máy khoan, 01 (một) máy đục, 02 (hai) máy mài, 01 (một) máy cắt, 01 (một) máy hàn điện tử và 01 (một) cuộn dây điện đôi dài 50m. Qua kiểm tra camera phát hiện Nguyễn Khắc H (là người làm thuê cho anh) đã trộm cắp những tài sản trên. Anh thống nhất với giá trị tài sản bị mất mà Hội đồng định giá đã định giá. Hiện nay anh đã nhận lại 01 máy khoan cầm tay, 01 máy hàn, 02 máy mài, 01 máy đục, 01 máy cắt sắt. Đối với số tài sản không thu hồi được anh không có ý kiến gì, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh.
Quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn T khai nhận: Chiều ngày 13/12/2019 một thanh niên đến cửa hiệu của bán đồ điện của anh tại huyện Trảng Bom để bán một số vật dụng cơ khí gồm có 03 (ba) máy khoan, 01 (một) máy đục, 02 (hai) máy mài, 01 (một) máy cắt, 01 (một) máy hàn điện tử và 01 (một) cuộn dây điện. Tuy nhiên anh chỉ mua 02 máy mài, 01 máy cắt sắt, 01 máy đục chuyên dụng, 02 máy khoan với giá 1.800.000đ. Ngày 19/12/2019 anh đã bán cho khách đi đường 02 máy khoan với giá 800.000đ. Số tài sản còn lại anh đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất. Khi H bán tài sản cho anh, anh không biết là tài sản H trộm cắp. Nay anh không yêu cầu H phải bồi thường cho anh đối với những tài sản anh đã giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Quá trình điều tra người làm chứng anh Doãn Quốc N khai nhận: Chiều 14/12/2019 Nguyễn Khắc H chở 01 giỏ xách có chứa 01 máy hàn, 01 máy khoan và đưa cho anh cất giữ để làm dụng cụ thi công cơ khí (anh và H đang làm cùng công trình). H không nói về nguồn gốc tài sản trên. Khi biết tài sản có nguồn gốc là do H trộm cắp anh đã giao nộp lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất.
Tại phiên tòa, đại diện diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Khắc H khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố, đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 13/12/2019, lợi dụng tiệm cửa sắt Thanh T (địa chỉ: Khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai) do anh Đào Thanh T là chủ không có người trông coi tài sản, Nguyễn Khắc H đã sử dụng chìa khóa cửa được anh T giao cho trước đó, mở cửa vào trộm cắp số tài sản gồm 03 máy khoan hiệu Makita, 01 máy đục hiệu Makita, 02 máy mài hiệu Sencan, 01 máy cắt hiệu Sencan, 01 máy hàn điện tử hiệu Tân Thành và 01 cuộn dây điện đôi dài 50m, tổng giá trị tài sản được định giá là 2.950.000 đồng. Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản hợp pháp thuộc sở hữu của người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.
[2.2 Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo thực hiện thì thấy: Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân đồng thời còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Trong vụ án này, tuy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn nhưng bị cáo đã nhiều lần bị kết án về các tội xâm phạm sở hữu, chấp hành xong hình phạt, không tu dưỡng, rèn luyện bản thân, tiếp tục phạm tội, thể hiện việc bị cáo lười lao động, xem thường pháp luật. Do đó cần phải có một mức án nghiêm đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Xét nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đến nay chưa được xóa án tích, 01 tiền án đã được xóa án tích, 02 tiền sự đến nay chưa thi hành, thể hiện việc bị cáo có nhân thân xấu. Tuy nhiên cũng cần xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không rõ cha, mẹ mất sớm, không người thân thích, không có nơi cư trú ổn định.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/12/2007, tuy nhiên phần án phí đến nay chưa thi hành, cũng không thuộc trường hợp hết thời hiệu thi hành bản án nên cần xác định là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
- 01 máy khoan cầm tay, 01 máy hàn, 02 máy mài, 01 máy đục, 01 máy cắt sắt đã được thu hồi trả cho bị hại nên không xem xét.
- Xe mô tô biển số 72C1 – 218.44, là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Kim T, chị T không biết H sử dụng xe đi trộm cắp nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 cuộn dây điện bị cáo làm rơi trên đường xuống nhà anh N và 02 máy khoan anh T đã bán cho người đi đường, đến nay chưa thu hồi được. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thống Nhất đã làm thủ tục truy tìm, chưa có kết quả. Khi có kết quả xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
Những vấn đề khác: Anh Trương Văn T, anh Doãn Quốc N có hành vi mua, chứa chấp tài sản do bị cáo trộm cắp, nhưng các anh hoàn toàn không biết nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý về hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khắc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 12 năm 2019.
Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Khắc H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND T.Đồng Nai; - VKSNDT. Đồng Nai; - VKSND H.Đồng Nai; - Công an H.Thống Nhất - Chi cục THADS H.Thống Nhất; - Bị cáo; bị hại; - NCQLNVLQ; - Lưu H.s; AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Nga |