- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Thanh Vũ cùng đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 199…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Vương Thanh V, Võ Tấn T, Nguyễn Hải D và Đặng Việt Ph (C T) phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HS-ST Ngày: 12-5-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Đào
2. Bà Trần Ánh Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Kim Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2020/HSST ngày 14 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Vương Thanh V, sinh năm 1985, tại tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vương Văn H, sinh năm 1961 và Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; vợ: Lê Thị Thùy D, sinh năm 1988 và chưa có con; tiền sự: không, tiền án: không (đã xóa); bị bắt tạm giam ngày 09-9-2019 đến nay, có mặt.
2. Võ Tấn T, sinh năm 1990, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Tấn H, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990 và có 02 người con lớn nhất, sinh năm 2010, nhỏ nhất, sinh năm 2019; tiền sự: không, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 11-9-2019, có mặt.
3. Nguyễn Hải D, sinh năm 1992, tại tỉnh TN; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1967 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1966; vợ: Phan Thị Huyền Tr, sinh năm 1994 và chưa có con; tiền sự: không, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 26-8-2019; ngày 22-01-2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lãnh, có mặt.
4. Đặng Việt Ph (C T), sinh năm 1997, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn Đ, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Kim Kh, sinh năm 1972; vợ, con: chưa có; tiền sự: không, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 26-8-2019; ngày 22-01-2020 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lãnh, có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Võ Thị V, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; có mặt.
2. Ông Lê Văn A, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; có mặt.
2. Chị Phạm Thị Huyền Tr, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; có mặt.
3. Chị Vương Thị H, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; có mặt.
4. Bà Lê Thị Kim Kh, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; có mặt.
- Người làm chứng: Bà Vương Thị T, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 06-6-2019, Vương Thanh V, Võ Tấn T, Nguyễn Hải Dư và Đặng Việt Ph tổ chức uống bia tại quán của bà Vương Thị T tại ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Vũ điều khiển xe môtô biển số 53X3-3249 chở Ph đi lấy bánh kem để tổ chức sinh nhật cho D. Khi đi ngang quán cà phê Phi Hùng của bà Võ Thị V cùng ấp, V nhớ lại việc bà V nhiều lần đòi tiền nợ nên V điều khiển xe nẹt pô và dừng lại trước quán. Lúc này, anh Nguyễn Văn Th trong quán đi ra thì bị Vdùng tay đánh, anh Th bỏ chạy vào trong quán thì V nhặt 02 chai thủy tinh đuổi theo nhưng không đánh được. Sau đó, Ph điều khiển xe chở V quay lại quán của bà T. Trên đường đi, V gọi điện thoại nói với T là V bị đánh và kêu T cầm rựa đến quán của bà V. T nói lại cho D nghe, T vào quán của bà T lấy 01 cây phảng bằng kim loại dài 1,18m giao cho D cầm, T điều khiển xe môtô biển số 63X9-6227 chở D đến quán của bà V. Khi đi được một đoạn, T và D gặp Ph đang điều khiển xe môtô chở V hướng về quán của bà T nên điều khiển xe chậm lại để chờ. Ph điều khiển xe chở V đến quán của bà T lấy 01cây dao tự chế bằng kim loại và quay lại vị trí T và D đang đợi rồi cùng nhau đến quán của bà V.
Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến quán của bà V, Ph đứng bên ngoài; V cầm 01 cây dao, T cầm 01 cây phảng và D không cầm vật gì cùng xông vào đuổi đánh bà V và những người có mặt tại đây. V cầm ghế nhựa trong quán ném trúng đầu của bà V, dùng cây đập phá 01 ti vi hiệu Samsung 55 inch; T cầm cây phảng đập phá tủ đựng thức ăn và biển hiệu của quán. Lúc này, ông Lê Văn A đang uống nước trong quán, bỏ chạy lên xe ôtô biển số 47C-026.66 của ông A đang đỗ trước quán, ông A lấy điện thoại di động ra ghi hình lại diễn biến sự việc thì nhóm của V phát hiện la lên “Có người quay phim trong xe ôtô”. Nghe vậy, V và T chạy ra chỗ xe ôtô đỗ. T cầm cây phảng đập kính chiếu hậu và kính khung kính chắn gió bên trái xe ôtô biển số 47C-026.66, yêu cầu ông A xóa hình ảnh. V đứng bên phải xe ôtô chiu người vào bên trong xe, cầm dao chém trúng má phải, vai và tay phải ông A gây thương tích. Ông A điều khiển xe ôtô bỏ chạy thì T ném bỏ cây phảng tại quán, điều khiển xe môtô chở D cùng với V một mình điều khiển xe môtô đuổi theo nhưng không kịp nên bỏ về; Còn Ph đi nhờ xe của người đi đường về nhà. Trên đường về, V ném bỏ cây dao (Cây dao không thu hồi được). Ông A được đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh điều trị thương tích, đến ngày 11-6-2019 thì xuất viện.
Quá trình điều tra, V, T, D và Ph thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 67 ngày 28-6-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Gò Dầu kết luận: 01 kính chiếu hậu bên trái xe ôtô Isuzu D-Max trị giá 1.600.000 đồng; 01 kính khung kính chắn gió xe ôtô hiệu Isuzu D-Max trị giá 1.300.000 đồng; 01 ti vi hiệu Samsung 55 inch trị giá 11.811.000 đồng; 01 tấm biển hiệu decal trị giá 970.000 đồng; 01 tủ đựng thức ăn trị giá 967.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 16.648.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 125 ngày 24-6-2019 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 vết sẹo vùng chẩm, 01 vết sẹo vùng góc hàm má phải, 01 vết sẹo vùng vai phải, 01 vết sẹo vùng 1/3 giữa ngoài cánh tay phải, 01 vết sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải, đứt gân duổi dài ngón I, đứt gân duỗi chung và riêng ngón II, III, IV, V, đứt gân duỗi cổ tay quay và tay trụ, hạn chế duỗi các ngón tay phải mức độ ít; tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Văn A do thương tích gây nên hiện tại là 14%; thương tích phù hợp do vật sắt gây ra.
Vật chứng thu giữ: 01 đôi dép da kích thước (0,28 x 0,10)m màu đen, loại quai ngang, trên thân dép có chữ DIOR, quai chiếc dép chân phải bị đứt; 01 tivi kích thước (0,72x1,25)m, dày 0,03m, tại mặt sau có chữ Samsung, tại góc dưới bên trái màn hình tivi có nhiều vết rạn nứt trong phạm vi (0,40x0,37)m, tại tâm vết rạn nứt có 01 vết rách sắt gọn dài 0,10m; 03 mảnh kính vỡ dày 0,003m; 01 cây rựa dài 01m18, phần lưỡi kim loại dài 0,43m, rộng 0,055m, dày 0,002m, loại 01 cạnh sắt, mũi nhọn, trên thân lưỡi có nhiều rỉ sét, phần cán gỗ hình tròn, dài 0m75, đường kính 0,03m; 03 mãnh nhựa vỡ.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của V, T, D và Ph đã bồi thường cho ông Lê Văn A số tiền 46.160.000 đồng, ông A không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bà Võ Thị V không yêu cầu bồi thường và ông A, bà V xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 17/CT/VKSGD ngày 14-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Vương Thanh V, Võ Tấn T, Nguyễn Hải D và Đặng Việt Ph (C T) về tội “Cố ý gây thương tích” và “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Vương Thanh V từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 55 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Võ Tấn T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây Thương tích” và từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải D từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 03 (ba) đến 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Xử phạt Đặng Việt Ph (C T) từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 03 (ba) đến 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Không đặt ra.
Biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự và Điều 589, 590 của Bộ luật dân sự.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép da kích thước (0,28 x 0,10)m màu đen, loại quai ngang, trên thân dép có chữ DIOR, quai chiếc dép chân phải bị đứt; 03 mảnh kính vỡ dày 0,003m; 01 cây rựa dài 01m18, phần lưỡi kim loại dài 0,43m, rộng 0,055m, dày 0,002m, loại 01 cạnh sắt, mũi nhọn, trên thân lưỡi có nhiều rỉ sét, phần cán gỗ hình tròn, dài 0m75, đường kính 0,03m; 03 mãnh nhựa vỡ.
Trả lại 01 ti vi kích thước (0,72x1,25)m, dày 0,03m, tại mặt sau có chữ Samsung, tại góc dưới bên trái màn hình tivi có nhiều vết rạn nứt trong phạm vi (0,40x0,37)m, tại tâm vết rạn nứt có 01 vết rách sắt gọn dài 0,10m cho bà Vén.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bà V không yêu cầu bồi thường. Ghi nhận ông A đã nhận bồi thường số tiền 46.160.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và những người liên quan khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo thực hiện: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 06-6-2019, tại ấp XB, xã HT, huyện GD, tỉnh TN, sau khi đã sử dụng bia, Vương Thanh V rũ Võ Tấn T, Nguyễn Hải D và Đặng Việt Ph cùng nhau sử dụng cây dao và cây phảng là hung khí nguy hiểm đập phá tài sản của bà Võ Thị V và tài sản của ông Lê Văn A gây thiệt hại với số tiền 16.648.000 đồng, đồng thời gây thương tích cho ông Lê Văn A với tỷ lệ thương tật là 14%, thể hiện tính chất côn đồ, trong khi các bị cáo không có mâu thuẩn gì với bà V và ông. Hành vi của các bị cáo Vương Thanh V, Võ Tấn T, Nguyễn Hải D và Đặng Việt Ph có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” và Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ông A và tài sản của bà V, ông A được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe, tài sản của người khác, nên cần xử phạt tù các bị cáo mới đủ sức răn đe, tùy theo tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo cụ thể: Đối với bị cáo V là người rũ rê, khởi sướng cùng các bị cáo T, D và Ph đến quán cà phê Phi Hùng của bà V để thực hiện tội phạm, bị cáo cùng bị cáo T là người trực tiếp dùng dao, phảng đập phá tài sản của bà V và ông A, đánh ông A gây thương tích. Ngoài ra, bị cáo V có nhân thân xấu năm 2010 phạm tội “Cướp giật tài sản” đã được xóa án tích, nên bị cáo V phải chịu mức hình phạt cao nhất trong vụ án này. Đối với bị cáo T bị bị cáo V rũ rê và cùng bị cáo V thực tội phạm đến cùng, nên bị cáo phải chịu mức hình phạt sau bị cáo V. Đối với bị cáo D và Ph là người tham gia với vai trò giúp sức tích cực, nhưng không trực tiếp gây thiệt hại cho bà V và ông A, nên phải chịu mức hình phạt thấp nhất trong vụ án. Với mức hình phạt như nhận định trên đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, biết chấp hành pháp luật, nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo; gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại ông A số tiền 46.160.000 đồng và bị hại ông A, bà V xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo; bị cáo V và D đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bị cáo T có bà ngoại Nguyễn Thị Kh được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy các bị cáo T, D và Ph có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điều 51, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất, mức độ nhân thân của các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Biện pháp tư pháp:
Vật chứng thu giữ: 01 đôi dép da kích thước (0,28 x 0,10)m màu đen, loại quai ngang, trên thân dép có chữ DIOR, quai chiếc dép chân phải bị đứt; 03 mảnh kính vỡ dày 0,003m; 01 cây rựa dài 01m18, phần lưỡi kim loại dài 0,43m, rộng 0,055m, dày 0,002m, loại 01 cạnh sắt, mũi nhọn, trên thân lưỡi có nhiều rỉ sét, phần cán gỗ hình tròn, dài 0m75, đường kính 0,03m; 03 mãnh nhựa vỡ không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho bà V 01 tivi kích thước (0,72x1,25)m, dày 0,03m, tại mặt sau có chữ Samsung, tại góc dưới bên trái màn hình tivi có nhiều vết rạn nứt trong phạm vi (0,40x0,37)m, tại tâm vết rạn nứt có 01 vết rách sắt gọn dài 0,10m.
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu đang quản lý.
Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông A số tiền 46.160.000 đồng, ông A không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ghi nhận bà bà Vén không yêu cầu bồi thường.
Ghi nhận chị Nguyễn Thị Thu H, chị Phạm Thị Huyền Tr, chị Vương Thị H, bà Lê Thị Kim Kh không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo: Vương Thanh V, Võ Tấn T, Nguyễn Hải D và Đặng Việt Ph (C T) phạm tội “Cố ý gây thương tích” và “Hủy hoại tài sản”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Vương Thanh V 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09-9-2019.
Căn cứ vào Điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 55 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Võ Tấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-9-2019.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Dg 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 (ba) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình án. Khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 26-8-2019 đến ngày 22-01-2020.
- Xử phạt bị cáo Đặng Việt Ph (C T) 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 (ba) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình án. Khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 26-8-2019 đến ngày 22-01-2020.
2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 589, 590 của Bộ luật dân sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép da kích thước (0,28 x 0,10)m màu đen, loại quai ngang, trên thân dép có chữ DIOR, quai chiếc dép chân phải bị đứt; 03 mảnh kính vỡ dày 0,003m; 01 cây rựa dài 01m18, phần lưỡi kim loại dài 0,43m, rộng 0,055m, dày 0,002m, loại 01 cạnh sắt, mũi nhọn, trên thân lưỡi có nhiều rỉ sét, phần cán gỗ hình tròn, dài 0m75, đường kính 0,03m; 03 mãnh nhựa vỡ.
Trả lại cho bà Vén 01 ti vi kích thước (0,72x1,25)m, dày 0,03m, tại mặt sau có chữ Samsung, tại góc dưới bên trái màn hình tivi có nhiều vết rạn nứt trong phạm vi (0,40x0,37)m, tại tâm vết rạn nứt có 01 vết rách sắt gọn dài 0,10m.
Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu đang quản lý.
Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho ông A số tiền 46.160.000 đồng, ông A không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ghi nhận bà V không yêu cầu bồi thường.
Ghi nhận chị Nguyễn Thị Thu H, chị Phạm Thị Huyền Tr, chị Vương Thị H, bà Lê Thị Kim Khkhông yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại.
3. Án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - CCTHADS huyện Gò Dầu; - Công an huyện Gò Dầu (02 bản); - Công an xã nơi bị cáo cư trú; - Các bị cáo; - Bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án; tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN TÂM |