vanban.org

Bản án 30/2020/HNGĐ.ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Đỗ Thị Ngọc U.

Về quan hệ hôn nhân: cho bà Đỗ Thị Ngọc U được ly hôn với ông Trần Trọng K. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ tranh chấp xin ly hôn và nuôi con giữa bà Đỗ Thị Ngọc U và ông Trần Trọng K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Đỗ Thị Ngọc U.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HNGĐ.ST
Ngày: 07/8/2020
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thành Hưng

2. Ông Bùi Thanh Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.

Ngày 07 tháng 8 năm 2020 Tòa án nhân dân quận C mở phiên tòa công khai tại trụ sở để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 157/2020/TLST-HNGĐ ngày 03/6/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình "Ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2020/QĐXXST- HN ngày 21/7/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Ngọc U, sinh năm 1997. Địa chỉ: 28A/5 tổ 5, Khu vực 3, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Trọng K, sinh năm: 1996. Địa chỉ: 49A tổ 56 khu vực 11, phường HP, quận C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/4/2020 và quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn là bà Đỗ Thị Ngọc U trình bày:

Bà và ông Trần Trọng K chung sống vào năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2018 tại Ủy ban nhân dân phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và ông K không quan tâm, chăm sóc vợ con nên vợ chồng thường cự cãi nhau; mâu thuẫn gay gắt kéo dài đến tháng 02/2019 thì ly thân cho đến nay. Nay tình cảm không còn, bà không thể nào tiếp tục chung sống với ông K được nữa nên yêu cầu xin ly hôn.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Trọng K1 (nam) sinh ngày 23/12/2017. Hiện con đang sống chung với bà nên bà yêu cầu được quyền nuôi con đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Trọng K vắng mặt.

Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục cần thiết, Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử công khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Đỗ Thị Ngọc U và ông Trần Trọng K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, mặc dù quan hệ hôn nhân của ông bà xác lập trên cơ sở tự nguyện; quá trình chung sống có thời gian hạnh phúc và đã có 01 con chung với nhau. Tuy nhiên, trong cuộc sống hôn nhân, giữa hai bên có sự bất đồng quan điểm nên không còn quan tâm, chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau; lẽ ra, cả hai vợ chồng phải cùng nhau dung hòa những bất đồng này, nhường nhịn lẫn nhau và cùng nhau phát triển kinh tế gia đình để xây dựng hôn nhân tiến bộ và bền vững nhưng ông bà không làm được điều đó nên dẫn đến hôn nhân đỗ vở là điều tất yếu. Nay bà U yêu cầu ly hôn, còn ông K mặc dù đã được Tòa án tống đạt các thông báo hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không đưa ra ý kiến hay thể hiện sự mong muốn hàn gắn đoàn tụ lại; ngoài ra, xét thấy, từ khi vợ chồng ly thân đến khi Tòa án thụ lý và giải quyết cho đến nay, ông K vẫn không có động thái nào để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ lại. Vì vậy, xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà U được ly hôn với ông K là phù hợp.

Về con chung: Có 01 (một) con chung là Trần Trọng K1 (nam) sinh ngày 23/12/2017. Xét thấy, do hiện tại con dưới 36 tháng tuổi và để tạo điều kiện cho con phát triển ổn định về mặt tinh thần, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; cần giao con cho bà U tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.

Do bà U không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.

Do ông K không trực tiếp nuôi con nên dành quyền thăm nom con chung cho ông K theo quy định pháp luật, không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ: do ông K vắng mặt và hiện tại chưa có ai nộp đơn yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ nên chưa giải quyết. Khi nào có ai khởi kiện sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà U phải chịu 300.000đ án phí tranh chấp hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình.

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Đỗ Thị Ngọc U.

1. Về quan hệ hôn nhân: cho bà Đỗ Thị Ngọc U được ly hôn với ông Trần Trọng K.

2. Về con chung:

Có 01 con chung là Trần Trọng K1 (nam), sinh ngày 23/12/2017.

Giao con cho bà Đỗ Thị Ngọc U tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Bà U không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

Dành quyền thăm nom con chung cho ông K theo quy định pháp luật, không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ: Chưa giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đỗ Thị Ngọc U phải chịu 300.000đ án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp 300.000đ theo biên lai số 006096 ngày 29/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận C, thành phố Cần Thơ. Bà U đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết đối với bị đơn, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ