vanban.org

Bản án 30/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn Th, cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn chị Phạm Thị Ng.

Về con: Giao cháu Nguyễn Điền Th - Sinh ngày 09/6/2012 cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000đ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Th + Phạm Thị Ng"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn Th, cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn chị Phạm Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 16-6-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Thu.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nghiêm Văn Luyến; bà Vũ Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2020/TLST - HNGĐ ngày 19/02/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 08/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2020 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Th - Sinh năm: 1985 - Địa chỉ: Thôn 2, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị Ng - Sinh năm: 1991 - Địa chỉ: Thôn Nam Thành, xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/02/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Ng kết hôn vào ngày 25/11/2011, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày kết hôn anh và chị Ng chung sống hạnh phúc đến tháng 12/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Ng có quan hệ với người đàn ông khác và hiện đang chung sống như vợ chồng với họ. Anh và chị Ng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay anh thấy tình cảm không còn, không thể chung sống với nhau được nữa, anh yêu cầu được ly hôn chị Ng.

Về con: Vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Điền Th - Sinh ngày 09/6/2012. Hiện cháu Th đang ở với anh. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, chị Ng đã biết được anh Th khởi kiện xin ly hôn chị ra Tòa án nhưng chị vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Ngày 22/5/2020, mẹ đẻ của chị Phạm Thị Ng là bà Nguyễn Thị N đã nộp cho Tòa án bản trình bày ý kiến của chị Ng (đề ngày 14/5/2020), chị thể hiện quan điểm như sau: Về hôn nhân: Chị đồng ý ly hôn với anh Th; về con: Chị thừa nhận có 01 con chung như anh Th trình bày, chị đồng ý để con cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Ng vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt chị Ng, còn anh Th vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là được ly hôn với chị Ng và yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Th, cho anh Th được ly hôn chị Phạm Thị Ng. Về con: Giao cháu Nguyễn Điền Th - Sinh ngày 09/6/2012 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng; chị Ng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th phải chịu án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của anh Nguyễn Văn Th, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Anh Nguyễn Văn Th có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Phạm Thị Ng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã đến tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho chị Phạm Thị Ng biết việc anh Nguyễn Văn Th xin ly hôn chị. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Ng vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 27/5/2020, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, chị Ng vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Như vậy, việc chị Ng không đến Tòa án để giải quyết vụ án là trường hợp cố tình trốn tránh, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt chị Ng.

Về hôn nhân:

Anh Nguyễn Văn Th và chị Phạm Thị Ng kết hôn ngày 25/11/2011, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị sống đến tháng 12/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo anh Th trình bày là do chị Ng có quan hệ với người đàn ông khác và hiện đang chung sống như vợ chồng với họ. Anh và chị Ng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau.

Tại biên bản xác minh ngày 06/3/2020, đại diện thôn Nam Thành, xã Th cho biết anh Th và chị Ng sau ngày kết hôn thì chung sống với bố mẹ anh Th, được khoảng 05 năm thì xảy ra mâu thuẫn, chị Ng về bên ngoại ở từ đó đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng anh Th và chị Ng là do anh Th chơi bời, sau đó chị Ng có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác.

HĐXX thấy, cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho anh Th được ly hôn chị Ng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung:

Anh Th và chị Ng có 01 con chung là Nguyễn Điền Th - Sinh ngày 09/6/2012. Anh Th yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Ý kiến của cháu Th là nếu bố mẹ cháu không ở được với nhau thì cháu có nguyện vọng được ở với bố.

HĐXX thấy, từ khi anh Th và chị Ng sống ly thân nhau đến nay cháu Th ở với anh Th, hiện chị Ng không thường xuyên có ở nhà và không quan tâm đến cháu, mặt khác, nguyện vọng của cháu Th là được ở với bố. Để tránh xáo trộn cuộc sống cũng như sinh hoạt của cháu nên xử giao cháu Th cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn.

Về mức cấp dưỡng: Anh Th không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nên miễn xét.

Về tài sản: Anh Th không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn Th, cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn chị Phạm Thị Ng.

2. Về con: Giao cháu Nguyễn Điền Th - Sinh ngày 09/6/2012 cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, chị Ng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Ng có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà anh đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0010682 ngày 18/02/2020 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn; anh Th đã nộp đủ tiền án phí DSST.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Th có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Ng có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ