- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "cho ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Lê Hồng D.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2020/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2020 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Đào
Các hội thẩm nhân dân:
1- Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh
2- Ông Lê Văn Thuận
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lê Hồng D, sinh năm 1990 (có mặt); địa chỉ: Số 438 khu phố L, phường L, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Anh Lê Quan N, sinh năm 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt); địa chỉ: Số 179 khu phố H, phường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 18/02/2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - chị Nguyễn Lê Hồng D trình bày:
Chị D và anh N chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành (nay là phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành), hôn nhân tự nguyện. Anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh N không chăm lo làm ăn, hay cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều người, chị D nhiều lần cho anh N cơ hội nhưng anh N không thay đổi, sau khi anh N vi phạm pháp luật, bị bắt tạm giam từ ngày 11.10.2018 thì vợ chồng ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N.
Về con chung: Có 01 người tên Lê Ngọc Khả H, sinh ngày 22/10/2016 hiện đang sống với ông bà nội (cha mẹ của anh N), sau khi ly hôn chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Theo bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 15/5/2020, bị đơn anh Lê Quan N trình bày:
Anh N thống nhất với chị D về thời gian vợ chồng chung sống, có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng có phát sinh mâu thuẫn, nhiều điểm không hợp nhau, anh thừa nhận mình đã làm khổ chị D và hiện anh đang chấp hành án phạt tù không thể tiếp tục chăm sóc vợ con. Vì vậy, anh N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D.
Về con chung: Có 01 người tên Lê Ngọc Khả H, sinh ngày 22/10/2016, trong trường hợp Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh N yêu cầu Tòa án giao con cho ông bà nội (cha mẹ của anh N) tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng do cháu H sống ổn định với gia đình anh từ lâu và quý mến ông bà nội.
Tài sản chung và nợ chung: Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Lê Quan N có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D. Về con chung: đề nghị giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung chị D, anh N không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Tính án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Lê Hồng D có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Lê Quan N cư trú tại khu phố H, phường H, thị xã Hòa Thành. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Bị đơn anh Lê Quan N đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N là đúng theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị D và anh N chung sống với nhau từ năm 2016, có thực hiện việc đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Chị D yêu cầu xin ly hôn do không hạnh phúc trong hôn nhân, quá trình chung sống anh N cờ bạc, không chăm lo vợ con nên phát sinh mâu thuẫn. Anh N đồng ý ly hôn và thừa nhận bản thân đã làm khổ vợ con,quá trình chung sống có lỗi với vợ nhiều, mặt khác hiện nay anh không có điều kiện để chăm sóc vợ con nên vợ chồng rất khó hàn gắn. Như vậy, yêu cầu được ly hôn của chị D là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Ngọc Khả Hân, sinh ngày 22/10/2016. Anh N yêu cầu Tòa án giao con chung cho cha mẹ anh (ông bà nội của cháu H) tiếp tục nuôi dưỡng. Nhận thấy con chung của anh chị chưa thành niên, anh N đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Cây Cầy không có điều kiện chăm cháu Hân. Tuy cháu H đang sống ổn định với ông bà nội nhưng do việc nuôi dưỡng, trông nom, giáo dục con chung là nghĩa vụ của cha và mẹ; còn quyền trực tiếp nuôi dưỡng của ông bà chỉ đặt ra khi trẻ em chưa thành niên không có cha, mẹ, anh, chị, em ruột có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Hân cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp. Chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị D, anh N không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành về việc giải quyết vụ án phù hợp với những nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Lê Hồng D.
Chị Nguyễn Lê Hồng D được ly hôn với anh Lê Quan N.
2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Ngọc Khả H, sinh ngày 22/10/2016 cho chị Nguyễn Lê Hồng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị D, anh N không yêu cầu Tòa giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Lê Hồng D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008513 ngày 18 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh), ghi nhận chị D đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Chị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, anh N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - Chi cục THADS thị xã Hòa Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Trúc Đào |