- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T) phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN TỈNH TN Bản án số: 30 /2019 /HSST Ngày: 26/ 02/2019 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH TN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Phượng
2.Ông Phạm Khắc Mã
- T ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, T ký Tòa án nhân dân thành phố TN.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2019/HSST, ngày 29 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HS ngày 12/02/2019 đối với bị cáo:
Tạ Văn T, Sinh ngày 22/10/1952; Tên gọi khác: Tạ Quang T; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường QT, thành phố TN, tỉnh TN; Chỗ ở: Tổ B, phường QT thành phố TN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Tạ Văn K ( đã chết) và con bà: Trần Thị M ( đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị B ( đã chết); con có 03 con, con lớn sinh năm 1980, con nhỏ sinh năm 1988 ( đã chết)
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
157/HSP
18/02/2004
tố
06 năm
: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Hiện bị cáo đang bị tạm gian tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN từ ngày 12/12/2018 đến nay.
( Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Vũ Tường L, sinh năm 1977 ( Vắng mặt tại phiên tòa)
HKTT: Tổ C, phường ĐQ, thành phố TN, tỉnh TN.
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1942 ( Vắng mặt tại phiên tòa)
HKTT: Tổ A, phường QT, thành phố TN, tỉnh TN.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
12 giờ
12/12/2018, tổ
ờng Quang Trung, thành phố TN làm nhiệm vụ tại khu vự
6 của phường phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu vàng, BKS: 20B1-947.14 ( là xe của ông Vũ Tường L, sinh năm 1977, trú tại: Tổ C, phường ĐQ, thành phố TN) có nhiều biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận yêu cầu người đàn ông dừng xe và kiểm tra hành chính. Người này chấp hành và khai tên Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T, sinh năm 1952, trú tại Tổ A, phường QT, thành phố TN; chỗ ở tổ B, phường QT, thành phố TN) T tự giác lấy từ túi quần bên trái đang mặc ra 02 gói giấy bóng màu đen, bên trong có 02 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng; 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng ( Theo T khai là Hêrôin và ma túy tổng hợp) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tạ Văn T và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra cong thu giữ của T 7.420.000đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu vàng, BKS: 20B1-947.14 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số imell: 357329087545468.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong và cân xác đị
ợng số
ắng thu giữ của Tạ Quang T, có khối lượng: 0,636 gam; 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,164 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 133 ngày 19/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận:
Chấ
ắng thu giữ của Tạ Văn T là ma túy, loại Heroine; Các viên nén màu hồng thu giữ của Tạ Văn T là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, Tạ Văn T khai nhậ
11
12/12/2018, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu vàng, BKS: 20B1-947.14 ( là xe T mượn của ông Vũ Tường L) từ Trung tâm y tế thành phố TN đến khu vực cầu Gia Bảy, thành phố TN mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 750.000đồng được 02 gói giấy bóng màu đen bên trong có 02 gói giấy bạc màu trắng chứa Hêroine; 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 02 viên nén màu hồng. Mua xong, T điều khiển xe mô tô nêu trên đi tìm nơi sử dụng ma túy, khi đi đến khu vực tổ D, phường QT, thành phố TN thì bị tổ công tác Công an phường QT phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSTPTN ngày 28/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đã truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội ” Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng : Điểm i, khoản 1 Điều 249, điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt: bị cáo Tạ Văn T từ 24 đến 30 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử lý vật chứng theo quy định.
- Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải nộp án phí HSST vào ngân sách nhà nước.
Trong phần tranh luận bị cáo T không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên thành phố TN trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:
12 giờ
12/12/2018, tại khu vực D, phường QT, thành phố TN, Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T) đã có hành vi tàng trữ 0,636 gam Heroine và 0,164 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường QT, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Tạ Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và hình phạt viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
““1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
i. Có hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ b đến h khoản này”.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; bị cáo là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2004 bị cáo đã từng bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy. Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của và nhân thân của bị cáo cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, mua ma túy về sử dụng không mang tính chất vụ lợi. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: T3, T4, ( bên trong chứa ma túy).
Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen số imell: 357329087515468.
Tạm giữ số tiền 7.420.000 đồng thu giữ của T để đảm bảo cho công tác thi hành án.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, biên bản giao nhận vật chứng số 153 ngày 31/01/2019.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision màu vàng, BKS: 20B1-947.14, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Ông Vũ Tường L.
Án phí; Quyền kháng cáo: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, theo Tạ Văn T khai đã mua của một người đàn ông không quen biết. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm i, khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51 BLTTHS năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T) phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T) 24 ( hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/12/2018.
Quyết định tạm giam bị cáo Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T) 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 :
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu: T3, T4, ( bên trong chứa ma túy).
Hoàn trả cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen số imell: 357329087515468.
Tạm giữ số tiền 7.420.000 đồng thu giữ của T để đảm bảo cho công tác thi hành án.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, biên bản giao nhận vật chứng số 153 ngày 31/01/2019).
Đối với chiếc xe máy Honda Vision màu vàng, BKS: 20B1-947.14, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Ông Vũ Tường L.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Tạ Văn T ( tên gọi khác Tạ Quang T) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niên yết. Nơi nhận:
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh TN;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh
- VKSND TP TN;
- CCTHADS TP TN;
- Công an TP TN;
- Sở tư pháp;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án;
Hoàng Thị Huyền
- Lưu. Nơi nhận:
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh TN;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP TN;
- CCTHADS TP TN;
- Công an TP TN;
- Sở tư pháp;
- Bị cáo;
- Hồ sơ vụ án;
Hoàng Thị Huyền
- Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Thị Huyền
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND TP TN; - CCTHADS TP TN; - Công an TP TN; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Huyền |