- Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI XUÂN T + ĐP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ Q TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HSST Ngày: 18/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
toµ ¸n nh©n d©n thÞ x· Q - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Vân.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Chí Thân và bà Đỗ Thị Kim Chinh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thùy Dung - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q - tỉnh Quảng Ninh, tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2019/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXX ngày 03/6/2019 đối với các bị cáo: 1. BÙI XUÂN T (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày 16/04/1992, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKHKTT: Khu Trại Trang, phường Cộng Hòa thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Tích, sinh năm 1960; Con bà Nguyễn Thị Thêm, sinh năm: 1965; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 20/02/2019 hiện tạm giam, có mặt tại phiên tòa. 2. VŨ VĂN T1 (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày 03/02/1989, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ĐKHKTT: Khu Cổng Bấc, phường Cộng Hòa thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn Thoại, sinh năm 1962; Con bà Nguyễn Thị Khơi, sinh năm: 1967; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/03/2015, Tòa án nhân dân thị xã Q phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 20/02/2019 hiện tạm giam, có mặt tại phiên tòa. *Những người bị hại: 1. Chị Nguyễn Thị T2 - Sinh năm: 1973; Trú tại:Thôn 2 - Xã HH - TX Q - Quảng Ninh. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. 2. Anh Mai Văn Q1 - Sinh năm: 1965; Trú tại: Khu 4 - Phường YG - TX Q - Quảng Ninh. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. *Những người làm chứng: 1. Anh Phạm Văn B1, sinh năm 1973; trú tại: Khu Khe Cát, phường MT, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt 2. Anh Bùi Văn P, sinh năm 1992; trú tại: Khu Khe Cát, phường MT, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 19/02/2019 Bùi Xuân T đi xe mô tô BKS 35 N5 - 2455 đến nhà Vũ Văn T1 ở khu Cổng Bấc, phường Cộng Hòa, thị xã Q, uống rượu, sau đó T và T1 rủ nhau đi trộm cắp tài sản để có tiền mua ma túy sử dụng. T điều khiển xe máy chở T1 đi vào khu 2, xã HH, thị xã Q, khi đi đến khu vực cổng trường trung học cơ sở HH, T1 nhìn thấy một chiếc xe ô tô tải của anh Mai Văn Q1 đang đỗ ven đường nên bảo T dừng lại để xem có vật gì để trộm cắp tài sản. T1 quan sát xe ô tô phát hiện thấy 01 bình ắc qui loại 120 A nhãn hiệu Animac nên quay lại bảo T đưa dụng cụ cắt lấy bình ắc qui. T mở cốp xe máy lấy cờ lê và kìm cắt sắt đưa cho T1 tháo và cắt rời bình ắc qui ra khỏi xe ô tô tải. Sau khi lấy được bình ắc qui, T phát hiện ra một chiếc xe kéo B1 bánh bằng kim loại (Dùng chở lợn) của bà Nguyễn Thị T2 đang để ven đường cách vị trí xe ô tô tải 90 mét không có người trông coi, nên bảo T1 cùng đến vị trí xe kéo, T dùng tay kéo xe kéo đến gần xe máy, T1 để bình ắc qui mới trộm cắp được lên xe kéo, T điều khiển xe máy chở T1 ngồi sau kéo xe kéo và bình ắc qui đi về hướng phường Đông Mai, thị xã Q tìm chỗ tiêu thụ nhưng không tiêu thụ được, Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/02/2019, T và T1 đi vào cửa hàng xăng dầu phường MT để đổ xăng. Tại đây các anh Bùi Văn P, Hoàng Văn Tâm, Phạm Văn B1 đều là nhân viên của cửa hàng xăng dầu MT thấy T1 và T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. T và T1 bỏ chạy thì bị các anh và nhân dân truy đuổi, báo Công an phường MT, thị xã Q bắt giữ và thu hồi toàn bộ tang vật.
- Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 50 ngày 21/02/2019 của Hội đồng định giá thị xã Q kết luận: Một xe kéo B1 bánh đã qua sử dụng trị giá 2.250.000đ (Hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng); Một bình ắc qui loại 120 A nhãn hiệu Animac trị giá 1.350.000đ (Một triệu B1 trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản trộm cắp trị giá là 3.600.000đ (B1 triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T đều thành khẩn khai nhận: Tối ngày 19/02/2019 T đi xe máy BKS 35N5 - 2455 đến nhà T1 tại khu Cổng Bấc, phường Cộng Hòa, chơi và ăn cơm uống rượu tại đó đến khoảng 22 giờ cả hai rủ nhau sử dụng xe máy đi lang thang tìm sơ hở để trộm cắp tài sản để lấy tiền mua ma túy cùng sử dụng, T điều khiển xe máy, T1 ngồi phía sau, khi đến gần trường trung học cơ sở HH nhìn thấy có một chiếc xe ô tô tải đỗ ven đường T dừng xe T1 vào quan sát phát hiện thấy 01 bình ắc qui loại 120 A nhãn hiệu Animac nên quay lại bảo T đưa dụng cụ để cắt lấy bình ắc qui, sau lấy được bình ắc qui, T phát hiện ra một chiếc xe kéo B1 bánh bằng kim đang để ven đường cách vị trí xe ô tô tải 90 mét không có người trông coi, nên bảo T1 cùng đến vị trí xe kéo, T dùng tay kéo xe kéo đến gần xe máy, T1 để bình ắc qui mới trộm cắp được lên xe kéo, T điều khiển xe máy chở T1 ngồi sau kéo xe kéo và bình ắc qui đi về hướng phường Đông Mai, thị xã Q tìm chỗ tiêu thụ nhưng không tiêu thụ được, Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/02.2019, T và T1 đi vào cửa hàng xăng dầu phường MT để đổ xăng. Tại đây T và T1 bị nhân viên cây xăng và Công an phường MT, thị xã Q bắt giữ và thu hồi toàn bộ tang vật. Ngoài ra T còn khai nhận vào khoảng tháng 12/2018 T đã trộm cắp một xe máy Honda Wave tại khu công trường thuộc xã Tiền An, thay BKS 35 N5 - 2455, sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản, nhưng quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu.
- Người bị hại chị Nguyễn Thị T2, khai: Ngày 20/02/2019 chị T2 được chị Vui là hàng xóm thông báo cho chị biết Công an đang thu giữ chiếc xe kéo B1 bánh bị trộm cắp, chị T2 xác định chiếc xe kéo Công an thị xã thu giữ là chiếc xe kéo của chị bị kẻ gian lấy trộm.
- Người bị hại anh Mai Văn Q1 khai: Vào khoảng 21 giờ đến 22 giờ ngày 19/02/2019 sau khi đi làm xong anh Q1 có đỗ chiếc xe ô tô tải BKS 14C - 01551 tại khu vực bãi đất phía trước cổng trường cấp 2 HH, đến 5 giờ sang ngày 20/02/2019 anh Q1 nhận được điện thoại của đồng chí Hải trưởng Công an xã HH hỏi anh kiểm tra lại xem có mất bình ắc qui hay không, sau khi anh Q1 kiểm tra và phát hiện bị kẻ gian cắt dây nối cực âm dương, tháo ốc của khung giá đỡ lấy mất bình ắc qui.
- Những người làm chứng: Anh Phạm Văn B1, Bùi Văn P, là nhân viên cây xăng MT đều có lời khai xác nhận: Khoảng 1 giờ 30 phút ngày 20/02/2019 khi đang làm ca đêm tại cây xăng MT thấy có 02 thanh niên điều khiển xe mô tô BKS 35 N5 - 2455 ngay lúc đó có tổ công tác tuần tra của Công an phường MT đến yêu cầu kiểm tra hành chính hai đối tượng đã bỏ chạy, tổ công tác của Công an phường cùng nhân viên cây xăng và quần chúng đã đuổi theo và bắt giữ được hai thanh niên này các đối tượng đã khai là Bùi Xuân T và Vũ Văn T1, là hai đối tượng nghiện ma túy tối ngày 19/02/2019 cả hai đi lang thang đi trộm cắp tài sản và đã lấy trộm được một bình ắc qui loại dùng cho xe ô tô tải và 01 xe lôi 3 bánh bằng sắt khi đi tiêu thụ đến cây xăng MT lúc vào mua xăng thì bị Công an kiểm tra bắt giữ thu hồi tang vật.
- Cáo trạng số 27/CT - VKSQY ngày 07/05/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, đã truy tố Bùi Xuân T và Vũ Văn T1, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố đối với với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T1, từ 09 (Chín) đến 12 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/02/2019.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân T, từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/02/2019.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại là chị Nguyễn Thị T2 và anh Mai Văn Q1, phù hợp với lời khai của các anh Phạm Văn B1, Bùi Văn P, là nhân viên cây xăng MT là những người làm chứng, chứng kiến việc bắt giữ bị cáo, biên bản, bản ảnh hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nên HĐXX thấy đã có cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 19/02/2019, tại thôn 2, xã HH, thị xã Q, Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T đã có hành vi trộm cắp 01 bình ắc qui loại 120A nhãn hiệu Animac trị giá 1.350.000đ (Một triệu B1 trăm năm mươi nghìn đồng) của anh Mai Xuân Q1 và 01 xe kéo B1 bánh đã qua sử dụng trị giá 2.250.000đ (Hai triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị T2. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 3.600.000đ (B1 triệu sáu trăm nghìn đồng). Hành vi của Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” tội và hình phạt của các bị cáo được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm hại sở hữu công dân, gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội, nên cần xử phạt nghiêm khắc các bị cáo mới có tác dụng dăn đe phòng chống tội phạm nói chung.
Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này T và T1 cùng rủ nhau chuẩn bị công cụ như cờ lê, kìm cắt, dao… để trong cốp xe máy và dùng xe máy làm phương tiện lang thang để đi tìm sơ hở của các chủ sở hữu nhằm mục đích trộm cắp tài sản lấy tiền mua ma túy sử dụng, trong đó T điều khiển xe máy, T1 ngồi phía sau khi phát hiện ra ô tô tải và xe kéo B1 bánh T dừng xe lấy đồ đưa cho T1 để T1 lấy trộm tài sản rồi cùng nhau đi tìm chỗ tiêu thụ. Do vậy hai bị cáo đều phải chịu trách nhiệm với vai trò ngang nhau.
Xét nhân thân các bị cáo: Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T đều là những đối tượng nghiện ma túy, Vũ Văn T1 còn là đối tượng có nhân thân xấu Ngày 10/03/2015 Vũ Văn T1 đã bị Tòa án nhân dân thị xã Q phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mình để có tiền mua ma túy sử dụng các bị cáo đã cùng nhau bàn bạc thống nhất mang theo cờ lê, kìm cắt sắt, dao nhọn… đi trộm cắp tài sản để bán đi lấy tiền mua ma túy sử dụng. Xét thấy cần xử phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo tu dưỡng rèn luyện mình và cũng để cho các bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng
- Đối với Bùi Xuân T lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây hậu quả không lớn, thành khẩn khai báo, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Vũ Văn T1, phạm tội gây hậu quả không lớn, thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với chiếc xe BKS 35 N5 - 2455 T đã dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, T khai là do xe đi trộm cắp mà có, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã thu giữ để xác minh xử lý sau, nên không đề cập giải quyết.
01 Bình ắc qui xe ô tô và 01 xe kéo B1 bánh bằng kim loại Cơ quan điều tra đã thu giữ trả lại những người bị hại, những người bị hại không có yêu cầu bồi thường, nên không đề cập xử lý.
01 cờ lê loại lớn có chiều dài 37 cm; 02 cờ lê loại nhỏ có chiều dài 14 cm; 01 tuốc nơ vít hai cạnh cán bằng nhựa xanh da trời có chiều dài 19 cm; 01 con dao cán nhựa màu vàng có chiều dài 19 cm, lưỡi dao dài 10 cm; 01 kìm cắt kim loại vừa có chiều dài 25 cm, là công cụ phạm tội. Cần tịch thu tiêu hủy.
Về các biện pháp khác:
- Xét các bị cáo là đối tượng không có thu nhập, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
- Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T1 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/02/2019.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/02/2019.
* Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy B1n thường vụ Quốc Hội.
- Tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê loại lớn có chiều dài 37 cm; 02 cờ lê loại nhỏ có chiều dài 14 cm; 01 tuốc nơ vít hai cạnh cán bằng nhựa xanh da trời có chiều dài 19 cm; 01 con dao cán nhựa màu vàng có chiều dài 19 cm, lưỡi dao dài 10 cm; 01 kìm cắt kim loại vừa có chiều dài 25 cm. Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/5/2019 giữa Công an thị xã Q và Chi cục thi hành án thị xã Q.
- Buộc các bị cáo Vũ Văn T1 và Bùi Xuân T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nhìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, vắng mặt những người bị hại, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh - VKSND thị xã Q. - Công an thị xã Q. - Các bị cáo. - Chi cục THADS thị xã Q - Lưu HS; VP; THAHS N¬i nhËn: - TAND tØnh Qu¶ng Ninh; - VKSND thÞ x· Qu¶ng Yªn; - C«ng an thÞ x· Qu¶ng Yªn; - BÞ c¸o; - Chi côc THADS thÞ x· Qu¶ng Yªn; - L u HS, VP, THAHS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bình Vân T/M Héi ®ång XÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n – Chñ to¹ phiªn toµ Lª ViÖt Ph ¬ng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Việt Phương |