- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Quỳnh tàng trữ chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 30/2019/HSST Ngày 18 tháng 4 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tòng Văn Toán.
2. Ông Lò Văn Thôn.
- Thư ký phiên toà:
Bà Hà Thị Điệp - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn Q - Sinh năm 1975 tại huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản C, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt ; Trình độ văn hoá: Không; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Đảng, đoàn: Không; Con ông Quàng Văn P (đã chết) và bà Quàng Thị U (đã chết); có vợ Lò Thị I và 02 ngƣời con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Về nhân thân: Năm 2007 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La. Ngày 17/4/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 12/12/2018 cho đến nay. Có mặt.
- Ngƣời có quyền lợi liên quan: Quàng Văn C, sinh năm 1994
Trú tại: Bản C, xã C, huyện S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 17 giờ 10 phút ngày 12/12/2018 Tổ công tác Công xã Mƣờng Lầm đang làm nhiệm vụ tại bản Hịa, xã Mƣờng Lầm, huyện Sông Mã, phát hiện 02 đối tƣợng điều khiển xe mô tô theo hƣớng từ bản Hịa - Mƣờng Lầm có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu dừng xe kiểm tra, khi dừng xe thì đối tƣợng ngồi sau đã ném xuống lề đƣờng 01 gói nilon màu trắng ( tự khai nhận là Quàng Văn Q ), Tổ công tác đã yêu cầu nhặt gói nilon lên để giao nộp. Qua kiểm tra bên trong gói nilon có chứa 01 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ( Q khai nhận là Heroine ). Tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với Quàng Văn Q và thu giữ vật chứng nghi là ma túy, tạm giữ 02 chiếc điện thoại di động, 01 chiếc xe mô tô.
Ngày 13/12/2018 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công tinh tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh trích mẫu vật chứng gửi giám định. Kết quả: Số chất bột màu trắng chứa trong gói nilon màu trắng có khối lƣợng 2,64gam, trích 0,20gam làm mẫu giám định ký hiệu T1; vật chứng còn lại có khối lƣợng 2,44gam ký hiệu T2; số chất bột màu trắng chứa trong gói nilon màu hồng có khối lƣợng 0,55gam đã trích 0,20 gam làm mẫu giám định ký hiệu T3, vật chứng còn lại 0,35 gam ký hiệu T4. Tổng khối lƣợng chất ma túy thu giữ đƣợc là 3,19 gam.
Tại kết luận giám định số 65 ngày 19/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: " Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T3 là ma túy, loại Heroine, tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,40 gam. Tổng khối lƣợng ma túy bị thu giữ là 3,19gam loại Heroine".
Quá trình điều tra Quàng Văn Q khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 1995 và thƣờng tìm ma túy để sử dụng. Khoảng 16 giờ ngày 10/12/2018 Q đi bộ lên bản Nà Sèo, xã Nậm Ty để tìm mua ma túy, khi đến bản Nà Sèo thì Q gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết đi ở đƣờng, Q hỏi mua ma túy thì ngƣời này bảo có nên Q đã bỏ ra 50.000đ đƣa cho ngƣời đàn ông này để mua ma túy, ngƣời đàn ông đó cầm tiền đi vào lán nƣơng gần đó, một lúc sau quay ra đƣa cho Q 01 gói Heroine, Q nhận lấy rồi đi vào lán nƣơng sử dụng, khi sử dụng xong thì ngƣời đàn ông đó nhờ Q ở lại rào ao giúp, Q đồng ý. Từ ngày 10/12 đến ngày 12/12/2018 trong thời gian ở đây Q đã mua thêm 01 gói Heroine của ngƣời Mông đó với giá 50.000đ để sử dụng. Đến Khoảng 9 giờ ngày 12/12/2018 Q hỏi mua ma túy và đƣa cho ngƣời Mông đó số tiền 700.000đ, ngƣời này cầm tiền đi ra ngoài khoảng 30 phút sau quay lại đƣa cho Q 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 gói Heroine (01 gói màu hồng, 01 gói màu xanh); Q mở gói màu hồng trích ra một ít sử dụng, số còn lại Q gói lại cất trong túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 14 giờ ngày 12/12/2018 Q đi bộ về nhà và gọi con trai là Quàng Văn C đến đón ở bản Hịa, xã Mƣờng Lầm, khi C đến đón đi đƣợc khoảng 200m thì bị Tổ công tác Đồn công an Mƣờng Lầm phát hiện bắt quả tang. Bị cáo cũng thừa nhận do bị cáo nghiện ma túy nên bị cáo mua ma túy về chỉ với mục đích sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKSSM ngày 27 tháng 3 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Quàng Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt từ 36 - 42 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng theo quy định. Miễn nộp án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo đƣợc hƣởng sự khoan hồng để sớm đƣợc trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập vào hồi 17h10’ngày 12/12/2018, bắt quả tang Quàng Văn Q có hành vi cất dấu 01 gói nilon bên trong có chứa 02 gói nilon ( bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ) nghi là ma túy;
- Vật chứng bị thu giữ gồm 02 gói nilon ( bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng và 01 gói nilon màu hồng, trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ); Kết luận giám định số 65 ngày 19/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận đối với số chất bột thu đƣợc của Q, đã kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T3 là ma túy, loại Heroine, tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,40 gam. Tổng khối lƣợng ma túy bị thu giữ là 3,19gam loại Heroine".
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai nhƣ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện. Nhƣ vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, ngày 12/12/2018 Quàng Văn Q đã mua đƣợc 02 gói Heroine của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông tại bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La với mục đích mang về sử dụng, khi trên đƣờng về nhà thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Số ma túy bị thu giữ có khối lƣợng là 3,19gam, loại chất Heroine.
Hành vi tàng trữ là 3,19gam Heroine của Quàng Văn Q đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải - là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lƣợng ma túy bị cáo tàng trữ và nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy và vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy, đối với điện thoại di động do không liên quan đén việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo và ngƣời có quyền lợi liên quan.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do Q không biế tên, địa chỉ cụ thể của ngƣời ngày nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Quàng Văn C là con trai của Q, là ngƣời đã dùng mô tô chở Q về, xét thấy khi đƣợc Q gọi đón C không biết việc Q cất giấu ma túy trong ngƣời, nên không đặt vấn đề xử lý hình sự đối với C, cơ quan Cảnh sát điều tra cũng đã trả lại Quàng Văn C chiếc xe mô tô C đã sử dụng làm phƣơng tiện đi đón Q là đảm bảo theo quy định.
Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện hộ gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, do vậy cần miễn khoản tiền án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 42 ( bốn mƣơi hai ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày tạm giữ, giam là ngày 12/12/2018.
2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 2,79g ( hai phẩy bảy mƣơi chín gam) Heroine.
+ 01 (một) túi nilon màu trắng.
+ 02 (hai) mảnh nilon màu trắng.
+ 01 (một) mảnh nilon màu hồng.
+ 01 (một) vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở.
( đƣợc đựng trong 01 phòng bì thƣ còn nguyên niêm phong ).
- Trả lại cho bị cáo Quàng Văn Q 01 (một ) chiếc điện thoại di động hiệu itel màu đen, xanh, số IMEL1: 355057094553048; IMEL2: 355057094553055.
- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Quàng Văn C 01 (một ) chiếc điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, đen, số IMEL1: 351670095267501; IMEL2: 351670095267519.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2018 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).
3- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:
Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/4/2019./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; - Bị cáo ; -Ngƣời có qllq; - Lƣu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |