vanban.org

Bản án 30/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/02/2019 . Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công công - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội gây rối trật tự công cộng.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN KHÁNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:30/2019/HS-ST
Ngày 28-05-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Thành và ông Nguyễn Thế Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Đình- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/TLST- HS ngày 25 tháng 04 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Văn L; sinh năm 1989 tại Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm 1, T, xã V, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Phạm Thị L1; chưa có vợ con; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 14/02/2019 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Lê Phú T; sinh năm 1997; trú tại: Xóm Y 2, xã Khánh L, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Trịnh Đức D; sinh năm 1995; trú tại: Xóm 6, xã M, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Đỗ Văn N; sinh năm 1994; trú tại: Xóm Y 2, xã Khánh L, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Đặng Minh H; sinh năm 1998; trú tại: Thôn 2, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Doãn D1; sinh năm 1999; trú tại: Xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Tạ Văn H1; sinh ngày 20/02/2002; trú tại: Xóm Chung Chính, xã Khánh Hội, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Tạ Văn H1: Ông Tạ Văn T1, sinh năm 1971; trú tại : Xóm C, xã H, huyện Y, tỉnh Ninh Bình - Là bố đẻ anh Tạ Văn H1; vắng mặt.

+ Anh Đinh Văn L2; sinh năm 1993; trú tại: Phố H, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Lê Văn C1; sinh năm 1989; trú tại: Phố H, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Bà Đinh Thị Ư, sinh năm 1971; trú tại: Phố H, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Đinh Văn T2, sinh năm 1993; trú tại : Phố H, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Đinh Đại P, sinh năm 1993; trú tại; Phố B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1976; trú tại: Phố B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Lại Thanh T3, sinh năm 1979; trú tại: Phố B, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Bà Lại Thị L3, sinh năm 1966, trú tại: Phố H, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1993; trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Phạm Văn T4, sinh năm 2001; trú tại: Xóm T, N, xã H, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

C1 ngày 28/8/2018, Đinh Văn L2 cùng Đinh Văn T2 và Đinh Đại P, đều sinh năm 1993 và trú tại thị trấn N, huyện Y đến hát tại quán Karaoke Suối Mơ của anh Lại Văn D1, sinh năm 1980 ở phố L, thị trấn N. Tại đây Đinh Đại P xảy ra mâu thuẫn với chị Dương Thanh T4, sinh năm 2000, trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là nhân viên hát ở tại nhà Nguyễn Văn H3, sinh năm 1993 trú tại thôn Đ, xã Khánh L, huyện Y và do H quản lý) cũng đến hát Karaoke tại quán cùng Bùi Văn T5, sinh năm 1992, trú tại xóm 1, T, xã V, huyện Y và các bạn của T5. P và T2 đã vào phòng hát của T5 tắt nhạc, không cho hát nên chị T4 và nhóm của T5 đi về. L2, T1, P ở lại quán tiếp tục hát thì Lê Văn C1 đến. P kể lại sự việc mâu thuẫn với nhân viên của Nguyễn Văn H3 và nói C1 về lấy dao, kiếm để cùng đi tìm H3. C1 đón xe taxi về nhà lấy 02 chiếc kiếm, 01 chiếc dao rồi quay lại quán Suối Mơ đón P cùng đi xuống nhà H3. L2 và T2 cũng đón 01 chiếc taxi khác đi xuống nhà H3. Tại đây giữa H3 và P xảy ra mâu thuẫn, P cầm kiếm đuổi theo H3 nhưng H3 bỏ chạy cầm gạch ném lại.

Bùi Văn T5 sau khi xảy ra mâu thuẫn với P đã gọi điện thoại cho Lê Văn L nói lại sự việc trên. Lúc này L và Trịnh Đức D đang có mặt tại Công ty TNHH dịch vụ tài chính Hồng Minh. Nhận được điện thoại, L điều khiển xe ô tô chở D đi đón thêm Nguyễn Doãn D1 và Tạ Văn H1 rồi cả nhóm đến quán Suối Mơ. Đến nơi, biết Pđang xuống Khánh Lợi nên L, D, D1, H1 đi xuống xã L tìm P. Khi đến đoạn đường trước cửa nhà H3 gặp P, C1, L2, T2. Lúc này giữa L và C1 xảy ra to tiếng, L, D, D1, H1 đã dùng tay, chân đánh C1. C1, P, L2 cầm dao, kiếm đuổi theo đánh nhóm của L. Quá trình đánh nhau, Lê Văn L bị chém trúng vào bắp chân trái.

Sau khi đánh nhau tại xã L, nhóm của C1 đi về thị trấn N. L chở đồng bọn đi về công ty lấy hung khí để tìm đánh nhóm của C1.Trên đường về, L gọi điện thoại rủ Lê Phú T, sinh năm 1997, trú tại xóm Y 2, xã L, huyện Y còn D lấy điện thoại của D1 gọi cho Đặng Minh H nói về việc L bị chém và bảo T, H đến công ty của L để cùng đi. Sau đó, H mang theo 01 kiếm và gọi thêm Phạm Văn T4, sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã H, huyện Y cùng H đi xe taxi xuống công ty của L. Khoảng 17 giờ cùng ngày L bảo D vào trong công ty lấy 03 dao tự chế (Lưỡi dao bầu hàn vào đầu ống tuýp kim loại) cho lên xe ô tô rồi L điều khiển xe ô tô chở D, D1, H1 đi vào đường R, thị trấn N để tìm nhóm của C1, L2. Khi H, T4, T đến Công ty TNHH dịch vụ tài chính Hồng Minh, H gọi điện thoại thông báo cho D, L cùng đồng bọn quay về công ty. Lúc này L điều khiển xe ô tô chở H, H1, D, D1, T còn T4 ngồi trên xe taxi theo sau tiếp tục đi tìm nhóm của C1.

Khi biết L đang đi tìm, Lê Văn C1 đã gọi điện thoại cho Đinh Văn T2 nói chuẩn bị sẵn vỏ chai bia, hung khí để đánh nhau với nhóm của L nhưng T2 không chuẩn bị được. Sau đó C1 cầm theo 01 kiếm và cùng L2 đi xe taxi đến khu vực cống Ông Hồng nơi giáp danh giữa phố R và phố H thì xuống xe. Đúng lúc này L điều khiển xe ô tô đi đến nhìn thấy C1 và L2 nên dừng xe để đồng bọn xuống xe đánh C1, L2. Cùng lúc này lực lượng Công an thị trấn N và bảo vệ dân phố nhận được tin báo của quần chúng nhân dân đã có mặt yêu cầu các đối tượng dừng ngay hành vi vi phạm nhưng các đối tượng vẫn đánh, chém nhau. D xuống xe thì bị C1 cầm kiếm đuổi theo chém 01 phát vào tay phải. L2 lấy 01 vỏ chai bia tại quán bán hàng tạp hóa của gia đình bà Đinh Thị Ư, sinh năm 1971, trú tại phố i H ném về phía xe ô tô của L. H cầm kiếm xuống xe chạy đến chỗ L2 để đánh thì L2 tiếp tục lấy vỏ chai bia ném H nhưng không trúng. L2 cầm theo 01 vỏ chai bia bỏ chạy, H cầm kiếm đuổi theo. H1, D1, T mỗi người cầm 01 dao tự chế xuống xe. Lúc này, T nhận ra C1 là người quen nên đứng lại ở phía sau, không tham gia đánh nhau còn H1, D1 chạy đến cầm dao tự chế chém C1, làm C1 bị thương tích ở lưng bên phải. Sau đó, H1, D1, T lên xe ô tô rồi L điều khiển xe bỏ chạy. Trịnh Đức D và Đặng Minh H bị công an, bảo vệ dân phố và quần chúng nhân dân giữ lại.

Sự việc các đối tượng đánh nhau ngày 28/8/2018 đã làm ồn ào, náo loạn khu dân cư phố R và phố H, thị trấn N, một số người dân đang làm việc, sinh hoạt ngoài đường sợ hãi bỏ chạy; một số người dân chạy ra ngoài đường xem xét hỗ trợ lực lượng công an, bảo vệ dân phố ngăn cản các đối tượng đánh nhau. Việc các đối tượng đánh nhau còn gây ách tắc giao thông cục bộ tại khu vực đường Cầu Rào trên tuyến đường tỉnh lộ 480B, có nhiều phương tiện tham gia giao thông qua lại.

UBND thị trấn Y và các Chi bộ, đoàn thể phố H, phố R đề nghị xử lý nghiêm minh hành vi của các đối tượng vì sự việc các đối tượng đánh nhau gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân.

Về thương tích: Lê Văn C1 bị 01 vết thương thấu ngực phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình đến ngày 05/9/2018 ra viện; Trịnh Đức D bị gãy hở 1/3 giữa xương trụ phải, đứt gân cơ trụ sau bên phải điều trị tại Bệnh viện Quân y 5 Quân khu III đến ngày 07/9/2018 ra viện; Lê Văn L bị 01 vết thương phần mềm dài 10cm tại cẳng chân trái điều trị tại Phòng khám đa khoa Tâm Đức – Sở y tế Ninh Bình.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Khánh đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Lê Văn C1, Lê Văn L, Trịnh Đức D nhưng C1, L, D đều từ chối giám định. Cơ quan điều tra đã trích xuất, áp giải C1 và D đến Trung tâm giám định pháp y tỉnh Ninh Bình để giám định nhưng Trung tâm từ chối giám định vì các đối tượng không hợp tác, không thể giám định được.

Sau khi phạm tội, Lê Văn L bỏ trốn, Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Khánh đã ra Quyết định truy nã và ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với bị can Lê Văn L. Ngày 14/02/2019, Lê Văn L đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Khánh đầu thú.

Đối với hành vi phạm tội của Trịnh Đức D, Nguyễn Doãn D, Đinh Văn L2, Đặng Minh H, Lê Văn C1, Tạ Văn H1, Tại Bản án số 16/2019/HSST ngày 09/4/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh đã xét xử và xử phạt Trịnh Đức D 33 tháng tù, Lê Văn C1 28 tháng tù, Đặng Minh H 28 tháng tù, Nguyễn Doãn D 25 tháng tù, Đinh Văn L2 25 tháng tù, Tạ Văn H1 21 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số 30/CT-VKSYK ngày 23/04/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh truy tố bị cáo Lê Văn L về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội gây rối trật tự công cộng.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 28 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 14/02/2019.

Tại phiên tòa bị cáo L đã thừa nhận hành vi gây rối trật tự công cộng của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Yên Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai tại phiên toà của bị cáo Lê Văn L phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, đủ căn cứ kết luận:

Ngày 28/8/2018 do mâu thuẫn cá nhân Lê Văn L đã khởi xướng, rủ rê và dùng ô tô chở Trịnh Đức D, Nguyễn Doãn D, Tạ Văn H1, Đặng Minh H đi tìm Lê Văn C1 để đánh . Khi gặp C1 và Đinh Văn L2 tại thị trấn N, huyện Y thì L ngồi trên xe, còn các đối tượng D, D1, H1, H, C1 và L2 đã dùng hung khí là kiếm, dao tự chế, vỏ chai bia để ném, chém nhau, gây rối trật tự công cộng tại khu vực đường 480B và đường phố M, phố R thuộc thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an T4 xã hội tại địa phương.

“Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an T4 xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

…”.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh, quy tắc sống của xã hội là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Đối cH với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi sử dụng hung khí để gây rối ngày 28/8/2018 của Trịnh Đức D, Đặng Minh H, Nguyễn Doãn D, Lê Văn C1, Tạ Văn H1 và Đinh Văn L2 đã bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS-ST ngày 9/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Văn L phạm tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú. Ngoài ra cũng cần phải xét đến nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo L có một phần lỗi từ phía Lê Văn C1 vì trước đó C1 đã có hành vi gây thương tích cho bị cáo L. Do đó bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về nhân thân và vị trí, vai trò của bị cáo: Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự nhưng xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật. Trong quá trình D, D1, H1, H, C1, và L2 gây rối thì L không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên L là người đã khởi xướng, rủ rê và điều khiển xe ô tô chở Trịnh Đức D, Nguyễn Doãn D, Tạ Văn H1, Đặng Minh H đi tìm đánh C1 nên L có vai trò chính trong vụ án.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo thành người công dân tốt.

Công an huyện Yên Khánh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Đại P, Nguyễn Văn H3 về hành vi đánh nhau ngày 28/8/2018 tại xã Khánh Lợi, huyện Yên Khánh.

Lê Phú T và Phạm Văn T4 đi cùng Lê Văn L đến thị trấn N vào ngày 28/8/2018. Nhưng khi các đối tượng đánh nhau, T4 và T cũng không tham gia đánh nhau, gây rối. Đinh Văn T2 đi cùng Đinh Văn L2 xuống xã L nhưng cũng không tham gia đánh nhau. Do vậy, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng này.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả cho Đinh Văn T2 01 điện thoại di động Nokia lắp sim thuê bao số 0979496135 trong quá trình điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 28/8/2018 đối với bị cáoTrịnh Đức D cùng đồng phạm. Quá trình điều tra vụ án này, Cơ quan điều tra đã trả cho Lê Phú T 01 điện thoại di động Nokia lắp sim thuê bao số 0942036362 đã thu giữ. 03 hung khí tự chế (lưỡi dao bầu hàn vào đầu ống tuýp kim loại), 02 chiếc kiếm, 03 đôi dép, 720 gam mảnh vỏ chai màu nâu, 01 điện thoại di động Nokia lắp sim thuê bao số 01298377496 của Lê Văn C1 là vật chứng của vụ án và số tiền 2.000.000 đồng của Trịnh Đức D đã được xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2019/HS -ST ngày 09/04/2019 của Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Các điện thoại di động và những hung khí khác mà các đối tượng đã dùng để liên lạc và sử dụng trong quá trình đánh nhau, cơ quan điều tra không thu giữ được. Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 35H - 1195 là tài sản của ông Đinh Đức T4; trú tại phố 6, phường G, thành phố N. Ông T4 cho con rể là anh Đặng Văn T5, trú tại số 18, đường T, phường T, thành phố N mượn. AnhT5 đã gửi xe ô tô tại nhà Lê Văn H4; trú tại phố G, phường P, thành phố N. Sau đó H4 cho Lê Văn L mượn để sử dụng. Ông T4, anh T5, anh H4 không biết việc L dùng xe ô tô chở đồng bọn đi đánh nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Khánh không thu giữ xe ô tô này.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/02/2019 .

2. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/05/2019); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/m. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

Cỡ chữ