- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Cường Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ: Điể m b k hoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HS-ST Ngày 20 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Đăng Hù ng
Ông Dương Văn Tậ p
- Thƣ ký phiên toà: Bà Đàm Thị Bưởi - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Trầ n Thanh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 20/8/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/TLST - HS ngày 29/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐXXST - HS ngày 06/8/2019 đối với bị cáo:
Vũ Cường Q (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 07 tháng 4 năm 1995 tại huyệ n Ba, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩ u thườ ng trú và chỗ ở : Thôn N, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao độ ng tự do ; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thanh V và bà Vương Thị X ; vợ là Hứa Thị H ô; con: Có 01 con; tiền án: 01 (mộ t) - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2018/HSST ngày 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắ c Kạ n, bị cáo bị xử phạ t 09 tháng tù nhưng cho hưở ng á n treo về tộ i “Trộ m cắ p tà i s ản”. Thờ i gian thử thá ch là 18 (mườ i tá m) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụ ng biệ n phá p ngăn chặ n “C ấm đi khỏi n ơi cư trú ” - Có mặt.
- Bị hại: Công ty Trá ch nhiệ m hữ u hạ n mộ t thà nh viên 686 - Đị a chỉ : Tổ N, phườ ng H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
Ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a bị hạ i: Ông Đà o Bá C - Sinh năm 1974; Chứ c vụ : Phó giám đốc Công ty TNHHMTV 686 - Vắ ng mặ t (có đơn xin xét xử vắ ng mặ t).
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan đồ ng thờ i là ngườ i là m chứ ng : Anh Luân Đoạ n T - Sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặt.
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị L - Sinh năm 1993; Trú tại: Tổ 1A, phườ ng Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t (có đơn xin xét xử vắ ng mặ t).
+ Chị Hoàng Thị Lan P - Sinh năm 1992; Trú tại: Thôn N, xã N, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn - Có mặ t.
- Ngườ i là m chứ ng: Ông Hoà ng Văn S - Sinh năm 1958; Trú tại: Thôn K, xã N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn - Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 28/12/2018, Vũ Cường Q (sinh năm 1995; trú tại: Thôn N, xã C, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn) đang chơi tại đoạn đường thuộc khu vự c phườ ng N, thành phố B thì gặ p Luân Đoạ n T (sinh năm 1986; trú tại thôn N, xã N, huyệ n B) đang điề u khiể n xe mô tô biể n kiể m soá t 97F5 - 7571. T rủ Q đi trộ m cắ p sắ t tạ i công trườ ng t hi công đườ ng nông thôn mớ i tạ i thôn N , xã N, huyệ n B. Q đồ ng ý và ngồ i lên xe mô tô để T chở về nhà T. Đế n 22 giờ cùng ngày, T và Q đi bộ đế n đoạ n đườ ng đang thi công tạ i t hôn N, xã N có mang theo mộ t bao tả i dứ a mà u da cam lấ y từ nhà T và cùng nhau nhổ các cọc sắ t đó ng hai bên đườ ng giữ cá c tấ m cố p pha đổ bê tông , mỗ i cọ c dà i khoả ng 30cm. Sau khi nhổ đượ c cá c cọc sắt trên đoạn đường dài khoảng 50m, Q và Tiếp cho và o bao tả i dứ a đã chuẩ n bị trướ c rồ i mang đi cấ t giấ u tại vị trí cách nơi lấy trộ m khoả ng và i chụ c mé t . Sau đó , cả hai về nhà T ngủ. Đế n 08 giờ ngày 29/12/2018, T điề u khiể n xe mô tô biể n kiể m soá t 97F5 - 7571 chở Q đến chỗ cấ t giấ u bao tả i đự ng cá c cọ c sắ t trộ m đượ c đem đế n cử a hà ng thu mua vậ t liệ u của chị Nguyễn Thị L (sinh năm 1993; đị a chỉ : Tổ 1A, phườ ng Đ, thành phố B). Chị L cân đượ c 53kg và mua vớ i giá 6000đ/kg. Do không có tiền lẻ nên chị L trả số tiề n 320.000đ cho Q, T. Sau khi nhậ n tiề n , Q và T đã cù ng nhau tiêu sà i hế t số tiề n trên . Còn chị L đã bán 53kg sắ t cho mộ t ngườ i đà n ông không rõ tên , tuổ i, đị a chỉ.
Ngày 05/01/2019, ông Hoà ng Văn S (sinh năm 1958; trú tại: Thôn K, xã N, thành phố B) là người đượ c thuê trông coi công trì nh là m đườ ng có đơn trì nh báo vụ việc mất trộm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyệ n B.
Tại Kết luận định giá tài sản số 04/KL - ĐGTS ngà y 18/02/2019 của Hội đồ ng đị nh giá tài sản huyện B kế t luậ n: “Tại thời điểm tháng 12/2018, 53kg sắ t đã qua sử dụ ng có giá là 318.000 đồ ng (ba trăm mườ i tá m nghì n đồ ng)”.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS-BT ngày 26/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện B để xét xử đối với Vũ Cường Q về tội "Trộ m cắ p tà i sả n" theo điể m b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo phạm tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”;
- Áp dụng: Điể m b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thờ i hạ n tù tính từ ngà y đi chấ p hà nh á n.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: do bị hạ i, ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan không yêu cầ u nên không đề nghị xem xé t.
- Về vật chứng, biệ n phá p tư phá p: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điề u 106 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự : Buộ c Vũ Cường Q và Luân Đoạ n T phải nộp lại số tiền 320.000đ do phạm tội mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt. Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa v ụ liên quan Luân Đoạn T thừ a nhậ n và o ngà y 28/12/2018 đượ c cù ng Q trộ m cắ p các cọc sắt tại đoạn đường nông thôn mới thuộ c thôn N, xã N và mang đi tiêu thụ lấy tiền tiêu sài cá nhân . Chị Hoàng Thị Lan P khai không biế t mụ c đí ch củ a T lấ y xe củ a chị P mang tà i sả n trộ m cắ p đi tiêu thụ .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
. Về hành vi và quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắ p tài sản như bản cáo trạng truy tố . Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp vớ i lờ i khai củ a nhữ ng ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để khẳng định: Hồ i 22 giờ 00 phút ngày 28/12/2018, Vũ Cường Q cùng với Luân Đoạn T đã lé n lú t chiế m đoạ t 53kg sắ t dù ng để giữ cố p pha đổ bê tông củ a Công ty TNHHMTV 686 tại đoạ n đườ ng nông mớ i thuộ c thôn N, xã N, huyệ n B, tỉnh Bắc Kạn có trị giá 318.000đ (ba trăm mườ i tá m nghì n đồ ng).
Hành vi của bị cáo được thực hiện khi bị cáo đã có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyề n sở hữ u tài sản của người khác đượ c phá p luậ t bả o vệ , gây mấ t trậ t tự trị an tại địa phương. Tuy giá trị tà i sả n
bị ch iếm đoạt dưới 2.000.000đ nhưng ngà y 20/3/2018, Vũ Cường Q đã bị Tò a á n nhân dân thà nh phố Bắ c Kạn kết án về tội “Trộ m cắ p tà i sả n”, đang trong thờ i gian chấ p hà nh án thì ngày 28/12/2018 Q lại trộ m cắ p tà i sả n. Do đó , hành vi của Q đã cấ u thà nh tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n”. Cáo trạng số 29/CT-VKS-BT ngà y 26/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bạch Thông truy tố Vũ Cườ ng Q về tội “Trộ m cắ p tà i sả n” theo điể m b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung:
"1. Người nào trộ m cắ p tà i sả n củ a ngườ i khá c trị giá từ 2.000.000 đồ ng đến dưới 50.000.000 đồ ng hoặ c dướ i 2.000.000 đồ ng nhưng thuộ c mộ t trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặ c phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
……………………………………………………………………………………….
b, Đã bị kết án về tội này ho ặc mộ t trong cá c tộ i quy đị nh tạ i cá c điề u 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 chưa đượ c xó a á n tí ch mà cò n vi phạm;
………………………………………………………………………………………
5. Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ
5.000.000 đồ ng đế n 50.000.000 đồ ng”.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân xấu - Đã từ ng bị kết án về tội trộm cắp tài sản; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, gây thiệ t hạ i không lớ n nên được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tì nh tiế t tăng nặ ng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo gây ra đối với xã hội, xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy cần buộc bị cáo đi cải tạo tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính giáo dục cho bị cáo và tính răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Vì vậy, mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắ p tà i sả n trong thờ i gian đang chấ p hà nh thờ i gian thử thá c h của án treo tại bản án số 05/2018/HS - ST ngà y 20/3/2018 của Tòa án nhân dân thà nh phố B. Ngày 25/7/2019, Quố c bị xé t xử trong mộ t vụ án khác và hình phạt của bản án số 05/2018/HS - ST củ a Tò a á n nhân dân thà nh phố B đã đượ c tổ ng hợ p trong bả n á n nà y.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xét thấy bị cáo là người lao độ ng tự do , thu nhậ p không ổ n đị nh, không có tà i sả n riêng nên không có khả năng thi hành. Vì vậy, HĐXX không áp dụng.
Đối với Luân Đoạn T là ngườ i cù ng bị cá o Q trộ m cắ p tà i sả n , tuy nhiên do giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000đ và T chưa có tiề n á n, tiề n sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Công an huyện B ra quyế t đị nh xử phạ t hà nh chính đối với T là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị L là người đã mua 53kg sắ t do Q, T trộ m cắ p mà có nhưng khi mua bán , chị L không biế t đây là tà i sả n do phạm tội mà có nên CQCSĐT không xử lý hì nh sự đố i vớ i chị L là đúng quy định của pháp luật.
Đối với chị Hoàng Thị Lan P là chủ sở hữu chiế c xe mô tô biể n kiể m soá t 97F5 - 7571 mà T sử dụ ng để vậ n chuyể n tà i sả n trộ m cắ p đượ c đi tiêu thụ , nhưng do chị P không biế t mụ c đí ch của T nên CQCSĐT không xử lý P là đúng quy đị nh.
. Về trá ch nhiệ m dân sự : Quá trình điều tra và trong đơn xin xét xử
vắ ng mặ t, đạ i diệ n bị hại, ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L không có yêu cầ u bồ i thườ ng nên HĐXX không xem xé t.
. Về vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra, CQCSĐT không thu giữ chiế c xe mô tô biể n kiể m soá t 97F5 - 7571 của chị Hoàng Thị Lan P.
Chiế c bao tả i dứ a mà u da cam mà Q , T dùng để đựng tài sản trộm cắp . Sau khi Q, T bán các cọc sắ t đã để lại bao tải tạ i cử a chị L và sau đó chị L cho ngườ i khá c nên CQCSĐT không thu giữ đượ c.
Số tiề n 320.000đ do bá n t ài sản trộ m cắ p mà có , Q và T cùng nhau chi tiêu cá nhân hế t. Do đó cầ n buộ c Q và T nộ p lạ i số tiề n trên để nộ p và o ngân sách Nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định củ a pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điể m b k hoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Vũ Cường Q phạm: “Tội trộ m cắ p tà i sả n”.
Xử phạt bị cáo Vũ Cườ ng Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấ p hà nh á n.
- Về vậ t chứ ng , biệ n phá p tư phá p : Căn cứ Điề u 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điề u 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộ c Vũ Cườ ng Q phải nộ p lại số tiền 160.000đ (mộ t trăm sáu mươi nghìn đồng) để nộp ngân sá ch Nhà nướ c.
Buộ c Luân Đoạ n T phải nộ p lạ i số tiề n 160.000đ (mộ t trăm sá u mươi nghìn đồng) để nộp ngân sá ch Nhà nướ c.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo Vũ Cường Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghì n đồ ng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Cường Q, nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan Luân Đoạn T , Hoàng Thị Lan P quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Công ty TNHHMTV 686, ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan Nguyễ n Thị L có quyền kháng c áo bả n á n trong hạ n 15 ngày kể từ ngà y nhậ n đượ c bả n á n hoặ c kể từ ngà y bả n á n đượ c niêm yế t./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bạch Thông; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Công an huyện B; - Bị cáo; bị hại; đương sự ; - Chi cục THADS huyện B; - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn; - Lưu hồ sơ; văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Doanh |