vanban.org

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Quốc H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị Quốc H1-Ông Nguyễn Trung H2"
  • Tòa quyết gì? 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15-8-2019
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Hiến

2. Bà Lê Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân thị

xã Ninh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Trương Ngọc Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa,

tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 37/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Quốc H1, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Thôn Tân Hưng, xã Ninh Hưng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh

Hòa; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung H2, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Thôn Tân Quang, xã Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa, tỉnh

Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn bà Trần Thị Quốc H1 trình bày:

Bà và ông Nguyễn Trung H2 kết hôn với nhau năm 2014 và được Ủy ban

nhân dân xã Ninh Quang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 116 ngày 31/10/2014. Quá trình chung sống ông bà có với nhau 01 con chung là Nguyễn Nhật Hàn M, sinh ngày 06/02/2015.

Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc do ông H2 không quan tâm chăm

sóc gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, đi chơi qua đêm bên ngoài dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng không sống chung với nhau từ đầu năm 2017 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Trung H2.

Về con chung: Hiện nay cháu Nguyễn Nhật Hàn M, sinh ngày 06/02/2015

do bà trực tiếp nuôi dưỡng nên bà tự nguyện tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết tài sản chung

và xác định không có nợ chung với ông H2.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không

có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Quốc H1 vẫn giữ nguyên nội dung

khởi kiện, yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trung H2; về con chung: Bà tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Nhật Hàn M, sinh ngày 06/02/2015 đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H2

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia

phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, công khai đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn

của nguyên đơn bà Trần Thị Quốc H1; về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Nhật Hàn M, sinh ngày 06/02/2015 cho bà H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; bà H1 không yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: Bà H1 không yêu cầu giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung với ông H2 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Trung H2 mặc dù đã được

Tòa án tống đạt Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông H2 đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông H2 theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn

yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Trung H2 hiện cư trú tại: Thôn Tân Quang, xã Ninh Quang, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về quan hệ hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Quốc H1 và ông Nguyễn Trung H2

kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ninh Quang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 116 ngày 31/10/2014 vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời trình bày của bà Trần Thị Quốc H1, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, giữa vợ chồng có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên quan hệ hôn nhân giữa bà H1 và ông H2 không hạnh phúc do ông H2 không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, đi chơi qua đêm bên ngoài dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng không sống chung với nhau từ đầu năm 2017 cho đến nay. Bà H1 khẳng định không còn tình cảm với ông H2 nên xin ly hôn. Mặt khác, trong suốt quá trình tố tụng, ông H2 cố tình vắng mặt không đến Tòa, điều này đủ cơ sở xác định ông H2 không còn quan tâm đến bà H1. Như vậy, đời sống chung của bà H1, ông H2 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của bà H1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Theo tài liệu giấy khai sinh và lời khai của bà H1 thì có

01 con chung là Nguyễn Nhật Hàn M, sinh ngày 06/02/2015, bà H1 tự nguyện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Hiện tại con chung đang sinh sống với bà H1, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như bảo đảm sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho cháu M, Hội đồng xét xử xét nên giao con chung cho bà H1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H1 không yêu cầu ông H2 cấp

dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H1 không yêu cầu giải quyết tài sản

chung và xác định không có nợ chung với ông H2 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà H1 phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ

thẩm.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân

dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều

82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Quốc H1.

1.1. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Quốc H1 được ly hôn ông Nguyễn Trung

H2.

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Nhật Hàn M, sinh ngày

06/02/2015 cho bà Trần Thị Quốc H1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Ông Nguyễn Trung H2 có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo

dục con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi

người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Quy định chung: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Quốc H1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn

đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà H1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0006204 ngày 04 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Bà H1 đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ