- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ Nguyễn Thị H - Dương Văn Q"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/HNGĐ-ST Ngày 19 - 9 - 2019 “V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tuấn
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Tạ Văn Đức
2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thịnh Thùy - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 “ V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, TT. T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc
Bị đơn: Anh Dương Văn Q, sinh năm 1993 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 09/5/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Dương Văn Q kết hôn với nhau ngày 18/02/2014 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện Y. Quá trình chung sống, khoảng 03 năm trở lại đây anh Q có quan hệ như vợ chồng với người phụ nữ khác đã được 02 bên gia đình khuyên can nhiều lần nhưng anh Q không thay đổi, không quan tâm đến cuộc sống chung vợ chồng, không cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn.
Bị đơn là anh Dương Văn Q trình bày: Anh thừa nhận chị H trình bày về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống vợ chồng là đúng. Theo anh Q giữa anh và chị có mâu thuẫn là do anh chơi bời không quan tâm đến cuộc sống chung vợ chồng và không cùng chị H chăm sóc nuôi dạy con chung. Anh Q và chị H sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Chị H đề nghị ly hôn, anh xác định tình cảm vẫn còn nên xin được đoàn tụ. Trường hợp chị H vẫn muốn ly hôn anh cũng đồng ý.
Về con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là cháu Dương Thị Hoài T, sinh ngày 12/8/2014 và Dương Khánh A, sinh ngày 17/01/2017. Các cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H và anh Q cùng đề nghị được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung. Anh Q không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị H đề nghị anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa chị H không đề nghị anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp: Chị H và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H và giao cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A, anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T; các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Quan hệ giữa chị H và anh Q là vợ chồng, chị H có đơn đề nghị ly hôn, do vậy xác định quan hệ tranh chấp là “Hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình giải quyết vụ án, anh Q đề nghị được vắng mặt nên vụ án được xét xử theo thủ tục chung.
Xét về yêu cầu của các đương sự:
. Về tình cảm: Chị H và anh Q kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn. nguyên nhân theo chị H là do anh Q chung sống với người phụ nữ khác như vợ chồng, mặc dù đã được gia đình khuyên ngăn nhưng không thay đổi. Anh Q cho rằng vì ham chơi nên không quan tâm chăm sóc đến chị H và các con chung, anh chị sống ly thân với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn; quá trình giải quyết vụ án anh Q cũng đồng ý ly hôn trong trường hợp chị H vẫn giữ nguyên đề nghị ly hôn. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H với anh Q là có căn cứ.
. Về con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là cháu Dương Thị Hoài T, sinh ngày 12/8/2014 và Dương Khánh A, sinh ngày 17/01/2017. Các cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn, chị H và anh Q cùng đề nghị được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung. Các bên đều không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, quá trình chung sống vợ chồng anh Q không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, mặt khác các cháu Hoài Thương và Toàn đều còn nhỏ và đang ở với chị H. Để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các cháu, nên cần giao cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu các con chung là phù hợp. Do chị H không yêu cầu nên anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
. Về tài sản chung, tài sản riêng, khoản vay, cho vay và công sức đóng góp: Chị H và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 56; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Dương Văn Q.
2/ Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Dương Thị Hoài T, sinh ngày 12/8/2014 và Dương Khánh A, sinh ngày 17/01/2017. Anh Dương Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0000783 ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc; - UBND nơi đương sự đăng ký kết hôn; - Các đương sự ( Để thi hành); - Lưu HS - AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Tuấn |