| TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2019/DS-PT Ngày 18 - 3 - 2019 V/v tranh chấp đ i lại tài sản và h p đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ NG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí T m
Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Phương.
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn M n - Thư T a án nh n d n t nh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Ông Lê Thành Biên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 11, 18 tháng 3 năm 2019 tại Tr s T a án nh n d n t nh Đồng Tháp t phúc thẩm công hai v án th l số: 211/2018/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp đ i lại tài sản và h p đồng mua bán tài sản.
Do bản án sơ thẩm số: 41/2018/DS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2018 của Toà án nh n d n huyện Tháp Mười bị háng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra t phúc thẩm số: 42/2019/QĐPT-DS ngày 13 tháng 2 năm 2019 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc Th, sinh năm 1970.
Địa ch : Ấp 5, ã Đốc B. K, huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.
2/ Bị đơn: Bà Ngô Thị D, sinh năm 1966.
Địa ch : Ấp 5, ã Đốc B. K, huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.
3/ Người có quyền l i nghĩa v liên quan:
Bà Trần Thị Nh, sinh năm 1953.
Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1972.
Cùng địa ch : Ấp 5, ã Đốc B.K, huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.
4/ Người làm ch ng: Bà Võ Thị B H, sinh năm 1955.
Cháu Võ Thị Mỹ Y, sinh năm 2005.
Cùng địa ch : Ấp 5, ã Đốc B. K, huyện Tháp Mười, t nh Đồng Tháp.
Ngươi háng cáo: Chị Huỳnh Ngọc Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc Thu trình bày:
Vào ngày 22/8/2016 (al) chị Th và bà D có hùn vốn nuôi 20 con heo giá mỗi con là 1.000.000đ. Đến cuối tháng 8/2016 chị sẽ đưa tiền hùn vốn nhưng đến ngày hẹn chị chưa có tiền nên nhờ bà D giới thiệu cho chị người vay tiền là chị Th. Chị Th đồng cho chị Th vay 10.000.000đ, sau hi nhận 10.000.000đ từ chị Th thì chị đưa tiền cho bà D.
Đồng thời ngày 22/9/2016 chị có mua 10 bao th c ăn Đại l th c ăn Nh ch Đốc Binh Kiều với giá 4.300.000đ, anh Nh đã ch 10 bao th c ăn giao cho bà D. Chị có mua thêm của bà Nh 80 bao th c ăn, hẹn đến hi bán heo sẽ trả tiền. Bà Nh có đến nhà bà D ác minh chị Th có hùn nuôi heo hông; bà D trả lời là có nên bà Nh đồng bán cho chị 02 lần tổng cộng là 60 bao th c ăn với tổng giá trị là 16.800.000đ. Nhưng đến nay bà D nói chị hông hùn vốn nuôi heo nên hông chịu trả tiền th c ăn.
Nay chị Th iện yêu cầu bà D trả bà số tiền 10.000.000đ tiền đã đưa cho bà D để mua heo con ban đầu; số tiền mua th c ăn của anh Nh là 4.300.000đ và phải trả cho chị số tiền 16.800.000đ để chị trả tiền cho bà Nh. Tổng cộng 03 hoảng là 31.100.000đ.
- Bị đơn bà Ngô Thị D trình bày:
Vào năm 2016, chị Th có đến nhà bà D hỏi mư n 10.000.000đ để chữa bệnh cho con, nhưng bà hông có tiền nên mới giới thiệu chị Th qua nhà chị Th mư n tiền. Chị Th qua nhà chị Th mư n 10.000.000đ có làm biên nhận với thời hạn 03 tháng. Nhưng 01 tháng sau chị Th đ i số tiền 10.000.000đ để mua th c ăn cho heo. Chị Th không có tiền trả nên thỏa thuận với chị Th là sẽ trả bằng th c ăn, chị Th đồng số lư ng th c ăn thỏa thuận là 40 bao th c ăn với giá 250.000đ/bao. Khi hai người thỏa thuận ong chị Th qua gặp bà nhờ bà cho để nhờ th c ăn cho heo để trả cho chị Th. Bà D đồng do bà cũng là người giới thiệu chị Th mư n tiền chị Th. Hai ngày sau có một e th c ăn ch đến nhà bà 30 bao th c ăn Ôsin và bà gọi chị Th qua lấy. Khoảng 10 ngày sau thì chị Th điện thoại cho bà hỏi để nhờ th c ăn và e th c ăn ch đến 30 bao th c ăn Ôsin. Chị Th qua lấy 10 bao và nói với bà đủ số lư ng 40 bao như thỏa thuận; c n lại 20 bao thưc ăn chị Th g i nhà bà thì vài hôm sau ch có con gái bà là Võ Thị Mỹ Y nhà thì chị Th gh lấy th c ăn đã g i và ch hết 20 bao th c ăn đi. Chị Th iện bà trả tiền hoàn toàn hông có cơ s vì:
+ Chị Th có đến hỏi mư n tiền của chị Th có thế chấp giấy ch ng nhận quyền s d ng đất.
+ Giữa chị Th và chị Th có thỏa thuận là chị Th sẽ trả chị Th 40 bao th c ăn trừ hoản n 10.000.000đ mà chị Th đã mư n.
+ Việc chị Th g i th c ăn tại nhà bà 2 lần mỗi lần là 30 bao là có thật nhưng để trả cho Th, số c n lại 20 bao chị Th đã ch đi.
+ Chị Th nói có hùn nuôi heo với bà hông đúng vì hông có ch ng c gì ch ng minh điều đó; ngoài ra giữa bà và chị Th ch biết nhau vài lần, chị Th ch đến nhà bà hỏi mư n tiền và g i th c ăn. Trong suốt thời gian nuôi heo chị Th hông có đến nhà bà để biết tình hình chăn nuôi cũng như giá cả hi uất chuồng.
+ Riêng đối với bà Nh thì bà càng lại hông biết vì bà hông có mua th c ăn của bà Nh; bà Nh ch đến nhà bà vì chị Th mua th c ăn của bà lại g i nhà bà để trả n cho chị Th. Nên việc chị Th có n th c ăn của bà Nh thì bà hông biết.
Do đó, chị Th yêu cầu bà trả số tiền 31.100.000đ, bà hông đồng .
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Th trình bày:
Chị có cho chị Th mư n số tiền 10.000.000đ có làm biên nhận hẹn 03 tháng sẽ trả. Nhưng chưa đến hạn thì chị nghe nói chị Th đang mắc n nên chị đến gặp chị Th lấy lại tiền nhưng chị Th hông có tiền nên êu lấy th c ăn chăn nuôi heo trừ n . Chị đồng và lấy của chị Th 40 bao th c ăn để trừ n 10.000.000đ. Sau hi lấy th c ăn trừ n ong thì chị Th êu chị viết biên nhận là đã nhận ong 10.000.000đ. Chị Th nói với chị là lúc trước mư n tiền thì giờ ghi là nhận tiền trả ch hỏi ghi th c ăn để sau này mắc công. Hiện nay giữa chị Th và bà D ảy ra tranh chấp chị hông yêu cầu gì vì giữa chị và chị Th đã giải quyết ong.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Nh trình bày:
Vào ngày 09/10/2016 (Al), chị Th có đến cơ s hỏi mua thiếu của bà 60 bao th c ăn để nuôi heo. Bà đồng bán. Chị Th có yêu cầu giao th c ăn tại nhà bà D vì chị Th có nói chị và bà D có nuôi chung bầy heo tại nhà bà D. Đồng thời chị Th h a 04 tháng bán heo sẽ trả đủ số tiền 60 bao th c ăn là 16.800.000đ.
Bà đã giao cho chị Th, bà D 02 lần là 60 bao th c ăn hiệu 20-50 Con C trọng lư ng 25 / bao. Lần 1: ngày 11/10/2016 (Al) e tải giao 30 bao tại nhà bà D. Lần 2: ngày 22/10/2016, tiếp t c giao thêm 30 bao tại nhà bà D. Sau đó nghe chị Th bể n , bà hông bán th c ăn cho chị Th nữa; bà đến nhà bà D đ i n , nhưng bà D hông trả và nói hông mua bán với bà nên hông biết. Sau đó bà gh nhà chị Th nhưng chị Th đã n tránh hông trả. Nay bà yêu cầu chị Th trả bà số tiền mua 60 bao th c ăn heo là 16.800.000đồng và tiền lãi quá hạn theo pháp luật quy định là 1,125% /tháng, thời gian 14 tháng là 2.646.000đ. Về ch ng c là biên nhận n của chị Th.
Bản án d n sự sơ thẩm số: 41/2018/DS-ST ngày 02/10/2018 của T a án nh n d n huyện Tháp Mười quyết định:
- Bác yêu cầu chị Huỳnh Ngọc Th đ i bà Ngô Thị D trả 31.100.000đ.
- Chấp nhận yêu cầu bà Trần Thị Nh. Buộc chị Huỳnh Ngọc Th trả bà Trần Thị Nh số tiền mua th c ăn vốn 16.800.000đ và lãi 1.952.000đ. Tổng cộng: 18.752.000đ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành ong số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu tiền lãi bằng 50% m c lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật d n sự tương ng với thời gian chưa thi hành án đến hi thi hành xong.
-Về án phí d n sự sơ thẩm:
Chị Th phải nộp 2.492.600đ án phí d n sự sơ thẩm. Chị Th đư c trừ vào tạm ng án phí đã nộp 420.000đ theo lai thu số 14876 ngày 24/7/2017 và 357.500đ theo biên lai số 14943 ngày 01/8/2017, chị Thu phải nộp tiếp 1.715.100đ.
Bà Trần Thị Nh đư c hoàn lại tạm ng án phí 486.000đ theo lai thu số 0002974 ngày 17/4/2018.
Các đương sự nộp án phí, nhận lại tạm ng án phí tại Chi c c thi hành án d n sự huyện Tháp Mười .
Ngoài ra bản án c n tuyên quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau hi t sơ thẩm chị Huỳnh Ngọc Th háng cáo yêu cầu T a án chấp nhận yêu cầu của bà đối với bà Ngô Thị D số tiền 31.100.000đ.
Tại phiên t a phúc thẩm nguyên đơn chị Th, bị đơn bà D, người có quyền l i nghĩa v liên quan bà Nh, chị Th có mặt và h ng định đã uất trình thêm đầy đủ ch ng c cho T a án giải quyết v án. Người làm ch ng bà Võ Thị B H, cháu Võ Thị Mỹ Y cũng có măt tại phiên t a trình bày thêm về sự việc mình biết.
Tại phiên t a phúc thẩm chị Th trình bày: Chị giữ nguyên yêu cầu h i kiện, yêu cầu háng cáo. Chị Th và bà D có hùn vốn nuôi heo nên bà D mới đ ng ra hỏi mư n tiền của chị Th giúp chị Th. Nếu trả tiền thiếu bằng th c ăn cho chị Th thì cũng trả tại nhà chị Th ch hông phải tại nhà bà D. Bà D có thừa nhận với bà Nh là có hùn vốn nuôi heo với chị Th và đồng trả n cho bà Nh. Không có ch ng c chị Th ch 20 bao th c ăn ra hỏi nhà bà D.
Bị đơn bà D trình bày: Bà hông đồng có việc hùn vốn nuôi heo với chị Th. Chị Th hông biết số tiền hùn nuôi bao nhiêu con heo, số tiền bán heo bao nhiêu; 20 bao th c ăn c n lại chị Th đã ch đi. Bà D đã có nói với bà Nh việc chị Th hông có hùn vốn nuôi heo, bà Nh cũng đã hông có tranh chấp đ i số tiền gì cả.
Chị Th, bà Nh giữ nguyên iến đã trình bày trước đ y và đồng với quyết định của bản án sơ thẩm.
Người làm ch ng bà B H trình bày tại nhà bà D; chị Th ch có hỏi bà mua th c ăn chăn nuôi heo hông, bà trả lời hông có mua. Bà ch biết vậy ch hông biết nội dung gì hác về nguồn gốc, loại th ăn, giá tiền bao nhiêu của loại th c ăn chị Th kêu bà mua, cũng hông biết việc thỏa thuận giữa bà D với chị Th.
Người làm ch ng cháu Y trình bày: Năm 2017 hông nhớ rõ ngày tháng năm. Cháu Y đang trong nhà thì cô Th gh nói đã ch bao th c ăn đi. Ngoài ra, hông biết gì.
Tại phiên t a đại diện Viện iểm sát phát biểu iến về việc tu n theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng t đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố t ng đúng theo quy định. Về nội dung giải quyết v án t háng cáo chị Th yêu cầu buộc bà D trả 31.000.000đ, thấy rằng:
Việc chị Th trình bày có hùn nuôi heo với bà D, nhưng trình bày của chị Th hông đủ cơ s ác định bà D đã thống nhất hùn nuôi heo và hông thừa nhận có nhận tiền của chị Th 10.000.000đ nên iện đ i lại là hông có cơ s .
Đối với 10 bao th c ăn cho heo do Đại l Nh giao cho bà D: Theo trình bày anh Bùi Văn Nh rằng bà D và chị Th đều có nói với anh Nh việc này, anh Nh đã giao th c ăn cho bà D để trừ n giữa chị Th với bà D, anh Nh đã nhận lại tiền từ chị Th ong. Do đó, chị Th đ i số th c ăn này là hông có cơ s .
Đối với 60 bao th c ăn cho heo do chị Th mua của bà Nh và bà Nh giao cho bà D quản l là có thật, các bên thừa nhận. Việc bà Th đã lấy 40 bao để trừ n 10.000.000đ mà chị Th vay của bà Th là có căn c , phù h p với lời hai bà D. C n lại 20 bao th c ăn cho heo do bà D quản l , di dời vào nhà. Bà D cũng thừa nhận rằng chị Th có êu bà B H bán 20 bao nhưng bà H hông mua. Bà D cho rằng chị Th đã mang 20 bao th c ăn này đi, hi đó bà hông có nhà, ch có con gái của bà là Võ Thị Mỹ Y biết, ngoài ra hông c n ch ng c hác. Chị Th hông thừa nhận đã ch 20 bao th c ăn này đi. Cháu Y cũng hông trình bày đư c chị Th ch bằng phương tiện gì và ai là người hu n vác. Do đó, háng cáo của chị Th có một phần cơ s đối với việc yêu cầu bà D trả lại giá trị của 20 bao th c ăn cho heo do chị Th g i bà D quản l nên đề nghị chấp nhận một phần háng cáo của chi Th. S a án 01 phần án sơ thẩm theo hướng buộc bà D phải trả lại cho chị Th giá trị của 20 bao th c ăn cho heo (tương đương 5.600.000đ).
Sau hi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ v án đã đư c iểm tra tại phiên t a và căn c vào ết quả tranh t ng tại phiên t a, iến phát biểu của đại diện Viện iểm sát.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] X t về nội dung v án theo yêu cầu chị Huỳnh Ngọc Th h i iện tranh chấp đ i bà Ngô Thị D trả số tiền 31.100.000đ. L do theo thỏa thuận hùn nuôi heo giữa chị Th với bà D thì chị Th đã mư n của chị Th số tiền 10.000.000đ để đưa cho bà D trả tiền cùng hùn vốn mua heo con để nuôi. Chị Th đã mua 10 bao th c ăn của anh Nh trị giá 4.300.000đ, anh Nh giao th c ăn cho bà D nhận để cho heo ăn. Chị Th mua 60 bao th c ăn của bà Nh, bà Nh giao th c ăn cho bà D nhận 60 bao và bà Nh hỏi bà D có hùn nuôi heo hông thì bà D trả lời là có; số tiền 60 bao th c ăn này là 16.800.000đ.
Do chị Th mua th c ăn của bà Nh chưa trả tiền nên bà Nh iện đ i chị Th trả 16.800.000đ và lãi 14 tháng với m c lãi suất 1,125%/tháng là 2.646.000đ tiền lãi.
[2] T a án sơ thẩm ác định việc chị Th đưa 10.000.000đ cho bà D; chị Th không ch ng c ch ng minh. Bà D hông thừa nhận 10.000.000đ của chị Th. Sau ngày chị Th mư n tiền của chị Th; chị Th đến nhà bà D mư n thêm tiền 4.000.000đ và êu 10 bao th c ăn chỗ anh Nh trả tiền cho bà D. Khi anh Nh giao th c ăn bà D có nói với anh Nh do chị Th n bà 4.000.000đ nên số tiền 10 bao th c ăn nầy chị Th trả tiền cho anh Nh, anh Nh đồng . Số tiền này theo lời hai ông Nguyễn Văn L (chồng chị Th): Anh Nh có đ i tiền th c ăn, ông có hỏi chị Th, chị Th (v ông) nói có hùn nuôi heo với bà D bị lỗ, ông thấy vậy uất tiền ra trả số tiền 4.300.000đ cho anh Nh và ông hông yêu cầu gì.
Đối với chị Th yêu cầu bà D trả số tiền 16.800.000đ mua th c ăn của bà Nh chưa trả. Bà Nh iện đ i chị Th trả 16.800.000đ và tiền lãi 14 tháng. X t chị Th là người hỏi mua th c ăn cho heo của bà Nh và yêu cầu bà Nh giao th c ăn tại nhà bà D; chị Th là người sổ n cho bà Nh nên chị Th phải thực hiện nghĩa v trả tiền cho bà Nh.
Chị Th cho rằng bà D là người nhận th c ăn nên bà D phải trả tiền cho bà để bà trả cho bà Nh. Nhưng bà D có nhận th c ăn là do chị Th g i để trả cho bà Th, bà D hông phải là người s d ng nên chị Th phải trả tiền cho bà Nh.
Do đó yêu cầu chị Th đ i bà D trả 31.100.000đ hông căn c nên hông chấp nhận. Chấp nhận yêu cầu của bà Nh buộc chị Th trả 16.800.000đ tiền mua th c ăn và tiền lãi tính theo quy định pháp luật là 1.952.000đ. Buộc chị Th phải trả bà Nh vốn 16.800.000đ, lãi 1.952.000đ.
[3] Sau hi t sơ thẩm nguyên đơn chị Th háng cáo yêu cầu giải quyết buộc bà D trả số tiền 31.100.000đ. Chị Th hông cung cấp ch ng c gì bổ sung để ch ng minh cho yêu cầu h i iện của chị. T a án cấp sơ thẩm đã đánh giá các ch ng c , tình tiết v án, lời hai của người làm ch ng hông có ch ng c ch ng minh thỏa thuận hùn vốn nuôi heo giữa chị Th với bà D là có căn c vì việc thỏa thuận hùn vốn nuôi heo; số tiền lãi bán heo thỏa thuận ph n chia chị Th trình bày hông thống nhất, lúc chia 7/3, lúc chia 6/4. Số lư ng heo hùn vốn nuôi hông biết ch nghe nói 20 con. Số lư ng th c ăn bỏ ra nuôi heo đến hi uất chuồng cũng hông thống nhất.
Tuy nhiên đối số lư ng 20 bao th c ăn của chị Th g i tại nhà bà D. Bà D thừa nhận sau hi chị Th g i thì bà có trách nhiệm quản l , bảo quản cho chị Th. Sau hi chị Th nhận 10 bao th c ăn thì chị Th đã ch 20 bao th c ăn này đi nhưng bà D hông có ch ng c gì ch ng minh việc chị Th ch đi. T a án cấp sơ thẩm ác định qua lời hai bà Võ Thị B H là nhà bà H cách nhà bà D hoảng 130 m t. Bà H hông để ngày tháng năm, hi bà gh nhà bà D có gặp chị Th, chị Th có hỏi bà mua th c ăn hay hông. Bà trả lời hông mua.
Lời hai của Võ Thị Mỹ Y (con bà D) là biết chị Th vì trước đ y chị Th có nhờ nhà, ngày tháng năm cháu hông nhớ, chị Th có đến ch th c ăn, c n số lư ng bao nhiêu cháu hông biết. Tại phiên t a phúc thẩm bà B H trình bày bà hông biết về số lư ng th c ăn bà D đang quản l , chị Th êu bán th c ăn chăn nuôi heo, bà hông mua nên hông hỏi nguồn gốc, hiệu th c ăn, số lư ng, giá tiền. Cháu Y cũng hông ác định đư c chị Th ch th c ăn đi bằng phương tiện gì, đi với ai, ch hi nào, số lư ng bao nhiêu. Do tài sản của chị Th; bà D đư c giao nhận g i giữ, quản l nhưng hông có ch ng c ch ng minh bà D giao lại chị Th nhận, T a án cấp sơ thẩm hông chấp nhận yêu cầu 20 bao th c ăn của chị Th là chưa h p l đúng quy định pháp luật nên chấp nhận háng cáo phần này của chị Th. Buộc bà D phải trả cho chị Th số lư ng 20 bao th c ăn với số tiền 20 280.000đ/1bao = 5.600.000đ.
[4] Từ những nhận định trên t đề nghị của đại diện Viện iểm sát chấp nhận một phần yêu cầu háng cáo của nguyên đơn, s a bản án sơ thẩm là có căn c phù h p pháp luật nên chấp nhận.
Mặt hác bản án sơ thẩm phần tiêu đề bản án tranh chấp ghi Đ i lại tài sản, mua bán tài sản nhưng phần đầu bản án lại ghi quan hệ tranh chấp h p đồng d n sự hùn vốn, mua bán tài sản là chưa thống nhất. Cần phải thống nhất ghi lại theo nội dung tranh chấp các đương sự là tranh chấp Đ i lại tài sản, h p đồng mua bán tài sản.
Đồng thời, đính chính lại áp d ng Bộ luật d n sự năm 2015 để giải quyết v án và nghĩa v chậm thi hành án do có hướng dẫn mới của quy định pháp luật nên cần ghi rõ lại cho dể thi hành án.
Các phần c n lại của bản án sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị có hiệu lực ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
[5] Về án phí d n sự: Do hông chấp nhận một phần háng cáo của chị Th và s a bản án sơ thẩm nên chị Th, bà D phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định. Chị Thu hông phải chịu án phí án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn c vào hoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015;
Các Điều 166, 430, 435, 440, 357, 468 Bộ luật d n sự năm 2015;
Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường V Quốc Hội, Quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và s d ng án phí và lệ phí T a Án.
- Chấp nhận háng cáo của bà Huỳnh Ngọc Th.
- S a một phần bản án d n sự sơ thẩm.
- Chấp nhận một phần yêu cầu chị Huỳnh Ngọc Th đối với bà Ngô Thị D. Buộc bà Ngô Thị D trả chị Huỳnh Ngọc Th số tiền 5.600.000đ.
- Chấp nhận yêu cầu bà Trần Thị Nh. Buộc bà Huỳnh Ngọc Th trả bà Trần Thị Nh số tiền mua th c ăn vốn 16.800.000đ và lãi 1.952.000đ. Tổng cộng: 18.752.000đ .
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người đư c thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người đư c thi hành án) cho đến hi thi hành án ong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo m c lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật D n sự năm 2015, trừ trường h p pháp luật có quy định hác.
2. Về án phí tố t ng d n sự:
- Án phí d n sự sơ thẩm:
Chị Huỳnh Ngọc Th phải nộp 2.212.500đ án phí d n sự sơ thẩm hấu trừ vào số tiền tạm ng án phí đã nộp 420.000đ theo lai thu số 14876 ngày 24/7/2017 và 357.500đ theo biên lai số 14943 ngày 01/8/2017 của Chi c c thi hành án d n sự huyện Tháp Mười. Chị Th phải nộp tiếp 1.435.000đ.
Bà Ngô Thị D phải nộp án phí d n sự sơ thẩm 300.000đ.
Bà Trần Thị Nh đư c hoàn lại tạm ng án phí 486.000đ theo lai thu số 0002974 ngày 17/4/2018 của Chi c c thi hành án d n sự huyện Tháp Mười.
- Án phí d n sự phúc thẩm:
Chị Huỳnh Ngọc Th hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm. Chị Th đư c nhận lai tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000đ theo lai thu số 0003773 ngày 18/10/2018 của Chi c c thi hành án d n sự huyện Tháp Mười.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người đư c thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án d n sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện iểm sát t nh đồng Tháp; - T a án huyện Tháp Mười; - Chi c c THADS huyện Tháp Mười; - Lưu hồ sơ v án, VP. THÀNH VIÊN HỘI Đ NG XÉT XỬ Bùi Văn Phương Sỹ Danh Đạt | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |