vanban.org

Bản án 30/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Phạt bị cáo Thị T 07 tháng tù (bảy tháng tù). Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Thị T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2018/HSST
Ngày: 28-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Điền

Bà Nguyễn Hằng Ny

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2018/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Thị T, sinh năm 1998; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 6, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn L và bà Lê Thị L; chưa có chồng con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị tạm giữ từ ngày 13/3/2018, bị tạm giam từ ngày 16/3/2018 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 16 giờ ngày 09/9/2017, Lê Thị T cùng bạn tên N (không xác định được họ và địa chỉ cụ thể) và ông Phạm Thanh T điều khiển 02 xe mô tô đến chơi nhà bà Lê Thị V (là bà con họ hàng với N) thuộc ấp 7, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Bà V có tổ chức nhậu tại nhà đến 22 giờ cùng ngày thì nghỉ nhậu. Thị T, Ngọc và ông T ngủ qua đêm tại nhà bà V. Đến 01 giờ ngày 10/9/2017, Thị T thức dậy thấy mọi người đều ngủ say, nên nảy sinh trộm cắp tài sản. Thị T vào buồng nơi ông T đang ngủ, lén lút lấy 01 điện thoại hiệu Mobistar bỏ vào túi quần và đi ra nhà sau của bà V lấy cắp 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 68G1-305.28 của ông T. Thị T dẫn xe của ông T ra ngoài được một đoạn rồi khởi động và điều khiển xe về thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Thị T đưa xe cho một người tên Tr bán được 2.500.000 đồng. Thị T trả công cho Tr 500.000 đồng. Còn điện thoại di động, Thị T đem bán cho một cửa hàng điện thoại (không xác định được tên và địa chỉ) tại khu vẹc bến tàu Rạch Mẽo, thành phố R, được số tiền 1.000.000 đồng. Thị T đã tiêu xài hết số tiền bán xe và điện thoại.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thới Bình kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu Sirius giá trị còn lại là 17.600.000 đồng, điện thoại di động giá trị còn lại là 2.134.000 đồng và 01 sim số điện thoại có giá trị là 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 19.834.000 đồng.

Sau khi vụ án được khởi tố, điều tra, Thị T đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình ra quyết định truy nã, đến ngày 13/3/2018 mới bắt được Thị T.

- Tại Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 13 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình đã truy tố Lê Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay:

- Ông T trình bày: Yêu cầu bị cáo bồi thường xe mô tô, điện thoại di động theo kết quả định giá và xử lý đúng quy định của pháp luật hình sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên toà:

+ Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, phạt bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù;

+ Đề nghị áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông T tổng số tiền 19.734.000 đồng;

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 19.734.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng lúc ông Phạm Thanh T ngủ say, vào khoảng 01 giờ ngày 10/9/2017 tại nhà bà Lê Thị V thuộc ấp 7, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, Lê Thị T đã lén lút chiếm đoạt của ông T 01 xe mô tô hiệu Sirius biển số 68G1-305.28 và 01 điện thoại di động hiệu Mobistar. Xe mô tô, điện thoại di động và thẻ sim điện thoại được định giá là 19.834.000 đồng.

Với những tình tiết như trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Mặc dù, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/01/2018, nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự hiện hành để truy tố không gây bất lợi cho bị cáo nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng. Chỉ vì động cơ vụ lợi mà bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu riêng của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an của địa phương.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, không có trình độ văn hóa nên hạn chế về mặt nhận thức.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để có thời gian cải tạo thành người tốt cũng như phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Ông T đã phục hồi và sử dụng được sim điện thoại, chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại di động theo giá trị được định giá. Do đó, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho ông T tổng số tiền là 19.734.000 đồng. Trường hợp chậm thanh toán, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định.

Đối với đối tượng tên Tr có hành vi bán xe dùm cho Thị T và được Thị T cho 500.000 đồng. Do chưa xác định được họ, tên và địa chỉ của Tr nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình tách ra xử lý sau là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Do bị kết án và buộc bồi thường thiệt hại, nên bị cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điều 48; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; các điều 23 và 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Lê Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Phạt bị cáo Thị T 07 tháng tù (bảy tháng tù). Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2018.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Phạm Thanh T tổng số tiền 19.734.000 đồng (mười chín triệu bảy trăm ba mươi bốn ngàn đồng).

Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bị cáo không chịu bồi thường cho ông T số tiền nói trên, thì hàng tháng, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và thi hành án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 987.000 đồng (chín trăm tám mươi bảy ngàn đồng, tính tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ