vanban.org

Bản án 30/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 14/05/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/05/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Tuyên bị cáo Nguyễn Thế T, phạm tội Trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T: 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cáo T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
TÆNH VÓNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 30/2018/HSPT
Ngaøy: 14-5-2018

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN TÆNH VÓNH LONG

- Thaønh phaàn Hội đồng xeùt xöû phuùc thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn – chuû toïa phieân toøa: OÂng Nguyễn Văn Hòa

Caùc Thaåm phaùn:

1/ Ông Đặng Văn Lộc

2/ Bà Huyền Thị Kiều Duyên

- Thö kyù phieân toøa: Ông Tào Văn Hiển – Thư ký của Toøa aùn nhaân daân tænh Vónh Long.

- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân tænh Vónh Long tham gia phieân toøa: Ông Trần Thanh Hồng - Kieåm saùt vieân.

Ngaøy 14 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toøa aùn nhaân daân tænh Vónh Long xeùt xöû phuùc thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù so:á 33/2018/HSPT ngaøy 16/4/2018 ñoái vôùi bò caùo Nguyễn Thế T. Do coù khaùng caùo cuûa bị cáo ñoái vôùi baûn aùn hình söï sô thaåm soá 07/2018/HSST ngaøy 06/3/2018 cuûa Toøa aùn nhaân daân huyện Vũng Liêm.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thế T, sinh năm: 1981 tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp Rạch Ngay, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long; ngheà nghieäp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; daân toâïc: kinh; con oâng Nguyễn Văn K và baø Lê Thị C; có vợ tên Nguyễn Ánh N (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2007; Tieàn án: Không.

Tiền sự: Ngày 29/5/2015 bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi tham gia đánh bài thắng thua bằng tiền. Bị cáo chưa nộp phạt.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/10/2017, Nguyễn Thế T đến nhà của chị Nguyễn Thị Như Th, sinh năm 1999 ngụ ấp Rạch Ngay, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm để xin thức ăn về nhà ăn cơm (Th là cháu của T). Sau khi ăn cơm xong, T tiếp tục đi qua nhà Th khi đi qua phòng ngủ của Th, T nhìn thấy điện thoại OPPO F3 của Th đang sạc pin để trên cái bàn ở gần đầu giường, T liền nảy sinh ý định lấy điện thoại của Th với mục đích tiêu xài cá nhân. T liền đi vào phòng ngủ của Th rút dây sạc pin ra khỏi điện thoại và lấy điện thoại OPPO F3 bỏ vào túi quần jean của T đang mặc rồi T đi về nhà của T. Sau đó, T đem điện thoại đến căn chòi bỏ hoang của ông Đặng Văn K ngụ ấp Rạch Ngay, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm cách nhà T khoảng 200m, T tắt nguồn điện thoại và giấu điện thoại trong kẽ lá của mái hiên căn chòi ông K. Giấu điện thoại xong T đến quán cà phê Nguyễn H ngụ ấp Mướp sát, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm uống cà phê.

Sau khi phát hiện điện thoại bị mất, Th và gia đình nghi ngờ T lấy nên hỏi T có lấy điện thoại của Th thì trả lại cho Th nhưng T không thừa nhận có lấy điện thoại của Th. Th đến Công an xã Trung Hiệp trình báo sự việc mất tài sản. Công an Trung Hiệp mời T làm việc. Lúc đầu, T không thừa nhận lấy điện thoại của Th, sau đó thì thừa nhận và khai báo nơi cất giấu điện thoại, Công an tiến hành lập biên bản thu hồi vật chứng.

Theo biên bản và kết luận định giá tài sản số 69/TTHS, ngày 06/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vũng Liêm, kết luận điện thoại di động OPPO F3 có giá trị thành tiền là 4.890.000đ (Bốn triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại bản án sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T, 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/3/2018, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ vì bị cáo còn lo cho cha, mẹ già và con của bị cáo, bị cáo hứa sẽ không tái phạm và làm lại người công dân tốt trong xã hội, bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo thừa nhận án sơ thẩm xử bị cáo tội trộm cấp tài sản là đúng tội, đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện lén lúc lấy trộm điện thoại di động của chị Th trị giá 4.890.000đ.

Kiểm sát viên nêu quan điểm giải quyết vụ án: phân tích hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cấp sơ thẩm xử bị cáo tội trộm cắp tài sản lá đúng tội danh, có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T kháng cáo nhưng không đưa ra tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, đề nghị hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: yêu cầu xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thế T thừa nhận ngày 28 tháng 10 năm 2017 bị cáo có lấy trộm của Nguyễn Thị Như Th chiếc điện thoại OPPO F3 trị giá 4.890.000 đồng là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, với lời khai của người bị hại; với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thu thập và được và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó án sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật, án sơ thẩm xử bị cáo T 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản là đúng tội, đúng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ đặt biệt nào mới nên không có căn cứ để xem xét, không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo của bị cáo T, y án sơ thẩm.

Xét việc đề nghị của Kiểm sát viên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp, nên chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thế T. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 06/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

Tuyên bị cáo Nguyễn Thế T, phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T: 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2/. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thế T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ