- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Sông D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! |
Bản án số: 30/2018/HS-ST
! Ngày: 29-01-2018
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Thẩm phán: Bà Lê Kim Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Nở
Ông Phạm Văn Hễ
Ông Nguyễn Đình Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Cao Thượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo: !!!!!!!!!!!Phạm!Sông!D; sinh ngày 13/10/1982; tại tỉnh Q; nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện G, tỉnh Q; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con V và bà L; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 10/5/2017; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Sông D: Luật sư T, Văn phòng Luật sư T, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Bị hại: Chị H; sinh năm 1991
Trú tại: Xóm D, xã M, huyện Q, tỉnh N; có mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2011 Phạm Sông D có quan hệ tình cảm yêu đương với chị H, đến tháng 3/2014, chị H và Dinh chia tay do hai người thường cự cãi nhau. Khoảng 14 giờ 30 ngày 19/5/2014 chị H trên đường đi làm về, gặp bạn là anh Võ Hoàng Nhân, cả hai về phòng trọ của chị H tại số 59, đường số A, khu phố B, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đang nói chuyện với anh Nhân thì Dinh từ ngoài đi vào, nói chuyện được một lúc thì Dinh kêu Anh N đi ra ngoài để Dinh nói chuyện với chị Ngoãn. Khi Anh N đi ra ngoài thì Dinh bất ngờ quay lại chốt cửa bên trong. Dinh tắt đèn rồi tiến lại dùng hai tay chụp lấy cổ áo của chị Ngoãn, chị Hchống cự, vùng vẫy và bị ngã sấp xuống nền nhà. Dinh lấy cây kéo ở kệ gần đó, cầm tay trái đâm liên tiếp nhiều nhát vào người, tay và lưng của Ngoãn. Lúc này Anh N đứng bên ngoài nghe tiếng chị Hkêu cứu nên tìm cách mở cửa để lao vào cứu chị H. Anh N dùng tay kẹp cổ kéo Dinh ra khỏi phòng rồi giật cây kéo ném ra xa và đưa đi cấp cứu, đến ngày 27/5/2014 thì ra viện. Còn Phạm Sông D bỏ trốn đến ngày 10/5/2017 ra đầu thú.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Sông D khai nhận: Do chị H đòi chia tay với Dinh và có tình cảm yêu đương với Anh N nên khi thấy chị H và Anh N trong phòng trọ của Ngoãn, Dinh ghen và tức giận nên đã chụp cổ áo, giằng co làm chị H ngã xuống nền nhà rồi dùng cây kéo đâm nhiều nhát vào người chị Ngoãn.
Tại bản kết luận giám định số 564/TgT.14 ngày 21/7/2014 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
* Chấn thương ngực kín gây:
- Gãy xương sườn 06 bên phải, xương sườn 08 bên trái;
- Dập phổi 02 bên;
- Tràn khí, tràn dịch màng phổi 02 bên lượng ít, tràn khí dưới da ngực bụng;
Đã được điều trị nội bảo tồn, hiện không còn thấy tổn thương phổi trên lâm sàng và Xquang. Thương tích do vật tày tác động gây ra.
* Đa vết thương phần mềm gây thủng da, đã được khâu, hiện còn nhiều sẹo màu nâu phẳng:
- Hai vết tại vai trái kích thước: 0,3x0,2cm mỗi vết.
- Bốn mươi vết khắp vùng lưng có kích thước từ 0,3 x 0,2 cm đến 1,6 x 02 cm;
- Năm vết tại vùng bụng kích thước 0,3 x 0,2 cm mỗi vết;
- Sáu vết tại mặt ngoài cánh tay trái kích thước 0,4 x 0,2 cm mỗi vết, có hình ảnh mẻ xương cánh tay trái trên phim Xquang;
- Hai vết tại ngón IV và kẽ ngón II, III bàn tay trái kích thước lần lượt 0,3 x 0,2 cm và 1,2 x 0,3 cm;
- Ba vết tại lòng bàn tay phải kích thước từ 1 x 0,1 đến 2 x 0,3 cm, mỗi vết tại ngón III bàn tay phải kích thước 0,7 x 0,2 cm;
- Hai vết tại mặt trong 1/3 trên cẳng tay phải kích thước 3 x 0,3 cm và1 x 0,2 cm;
- Hai vết tại mặt trước 1/3 giữa dưới cẳng tay phải kích thước 0,5 x 0,2 cm và 0,8 x 0,2 cm;
* Các thương tích do vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc gây ra;
* Tất cả các thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự;
* Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên hiện tại là 42%.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 564.B/Tgt.14-17 ngày 15/6/2017 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Cây kéo như đã cung cấp dài khoảng 20 cm, mũi nhọn không gây ra tình trạng chấn thương ngực kín nhưng có thể gây ra được tất cả các vết thương còn lại”.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 184 – 17/KLGĐ-SV ngày 28/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định dấu vết trên cây kéo như sau: “Chất loang màu nâu đỏ dính trên cán kéo là máu người”.
Bản Cáo trạng số 387/CT-VKS-P2, ngày 09/10/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Phạm Sông D về tội “Giết người” theo điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Sông D thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung mà bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, tranh luận như sau: Quá trình điều tra, thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa có đủ cở sở kết luận bị cáo Phạm Sông D có hành vi dùng cây kéo nhọn đâm nhiều nhát vào cơ thể chị H. Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo và những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Sông D phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm q khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Sông D từ 12 năm tù đến 14 năm tù.
Buộc bị cáo Phạm Sông D phải bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Không đồng ý với việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội giết người vì động cơ đê hèn tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự. Bởi vì: Bị cáo đâm bị hại 62 vết thương đều là những vết đâm nông, không có vết nào nguy hiểm đến tính mạng, không có vết nào chí mạng, không ngăn cản đưa bị hại đi cấp cứu. Do vậy, hành vi của bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích. Luật sư đồng ý về các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo mà Viện kiểm sát áp dụng cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Viện kiểm sát đối đáp: Bị cáo có hành vi chốt cửa không cho ai vào cứu bị hại, bị cáo có ý định tước đoạt tính mạng và bỏ mặc hậu quả xảy ra nếu không được Anh N cứu kịp thời nên bị cáo đã phạm tội giết người.
Đại diện Viện kiểm sát và Luật sư không tranh luận, đối đáp bổ sung, giữ nguyên quan điểm đã nêu.
Bị cáo chấp nhận lời bào chữa của Luật sư, không tranh luận và không tự bào chữa về hành vi phạm tội.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Sông D tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với những vật chứng đã được thu giữ, bản kết luận giám định nên có đủ cơ sở để kết luận: Phạm Sông D và chị H có quan hệ tình cảm yêu đương. Do chị H đòi chia tay với Dinh nên vào khoảng 14 giờ 30 ngày 19/5/2014 khi thấy chị H và Anh N đang ngồi nói chuyện trong phòng trọ, Dinh ghen và tức giận nên đã chụp cổ áo, giằng co làm chị H ngã xuống nền nhà rồi dùng cây kéo đâm nhiều nhát vào người chị Ngoãn. Anh N lao vào kéo Dinh ra khỏi phòng rồi giật cây kéo ném đi và đưa chị H đi cấp cứu.
[3] Hành vi của bị cáo Phạm Sông D là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tính mạng con người được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thì: “Do tức giận, bột phát nên không kìm chế được bản thân, lại do đang say nên đã có hành động như vậy, không nghĩ đến được hậu quả Ngoãn có chết hay không và không có ý định giết Ngoãn từ trước, nếu không được Nhân vào phòng kéo tôi ra cứu Ngoãn thì hậu quả Ngoãn chết có thể xảy ra, có thể Ngoãn đã chết”. Bị cáo không phạm tội giết người vì động cơ đê hèn được quy định tại điểm q khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự như cáo trạng đã truy tố. Mặt khác, căn cứ kết luận giám định thì tất cả các thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự và tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên hiện tại là 42%. Như vậy, căn cứ nguyên nhân, hậu quả thực tế xảy ra thì bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Mặt khác, Tòa án đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát xem xét lại hành vi của bị cáo Dinh về tội giết người. Tuy nhiên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; Căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về giới hạn của việc xét xử nên Hội đồng xét xử bị cáo về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999.
Như vậy, bị cáo đã có hành vi dùng kéo đâm vào bị hại 62 nhát, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên hiện tại là 42%, bị hại đã được đưa đi cấp cứu kịp thời nên bảo toàn tính mạng. Đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã đầu thú trước cơ quan chức năng toàn bộ hành vi phạm tội của mình và căn cứ kết luận giám định thì tất cả các thương tích không nguy hiểm đến tính mạng của đương sự, chị H chỉ bị thương tích 42%. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Nhận định trên cũng là quan điểm của Hội đồng xét xử chấp nhận một phần qua điểm của Luật sư bào chữa và quan điểm của Viện kiểm sát.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí hợp lý cho thời gian điều trị tại bệnh viện, thời gian nghỉ làm không có thu nhập, thu nhập bị giảm sút, công sức người chăm sóc trong thời gian nằm điều trị và tổn thất về tinh thần, tổng cộng là 115.276.779 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
[6] Vật chứng thu giữ gồm: 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 20 cm, mũi nhọn, cán kéo được bọc ống cao su màu cam thu giữ tại hiện trường không có giá trị nên tịch thu để tiêu hủy.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:!
!
Tuyên bố bị cáo Phạm Sông D phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Sông D 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2017.
Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo bồi thường cho chị H số tiền 115.276.779 đồng (một trăm mười lăm triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm bảy mươi chín đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 20 cm, mũi nhọn, cán kéo được bọc ống cao su màu cam.
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số 03/18 ngày 10/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.763.838 đồng (năm triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm ba mươi tám đồng) .
Bị cáo và đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; (1) - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKS ND TP-HCM; (3) - Cục THA dân sự; (1) - Trại giam; (2) - Bị cáo; (1) - Đại diện hợp pháp bị hại; (2) - Luật sư; (1) - THA Hình sự; (1) - Phòng PC53 - CA Tp. HCM; (2) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ (25) (4).!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA Trần!Minh!Châu |