vanban.org

Bản án 30/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Tuyên án 31/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Lương Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lương Văn L cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phố h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn L phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2018/HS-ST
Ngày 31– 5 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Cảnh Tứ.

Bà Lê Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Lương Văn L, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1994 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L và bà Doãn Thị V; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14 tháng 12 năm 2017 đến ngày 19 tháng 01 năm 2018 được tại ngoại. Có mặt.

Người bị hại: Anh Lương Văn T, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2000.

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Lương Văn T: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1970 (mẹ đẻ).

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Ông Lương Văn Th, sinh năm 1965.

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Bà Doãn Thị V, sinh năm 1973.

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Ông Lương Văn L, sinh năm 1970.

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2017, ông Lương Văn Th thấy phần mái tôn lợp nhà của gia đình bà Doãn Thị V khi trời đổ mưa đổ nước sang nhà của mình. Ông Th nói với con trai là Lương Văn T trèo lên uốn mái tôn điều chỉnh để nước khỏi chảy sang nhà của mình. Phát hiện thấy T bẻ uốn mái tôn của gia đình mình, bà V đã to tiếng cãi nhau với anh T. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi bà V và anh T đang cãi nhau thì Lương Văn L là con trai bà V đi làm về. L gọi anh T ra khu vực ngoài đường để hỏi chuyện. Khi anh T vừa ra đến khu vực cổng nhà thì bị L dùng tay đánh vào người anh T. Thấy con mình bị L đánh, ông Th chạy ra để can ngăn. Lúc này, L nhặt được 01 chiếc gậy tre dài 60 cm, đường kính 05 cm đánh anh T và ông Th. Quá trình đánh nhau, do chiếc gậy tre bị tuột khỏi tay nên L tiếp tục chạy vào nhà lấy 01 đoạn ống sắt vuông dài 160 cm, cạnh 02 cm chạy ra để tiếp tục đánh nhưng được ông Lương Văn L1 là bố đẻ của L can ngăn.

Hậu quả: anh Lương Văn T bị thương ở vùng thái dương bên trái được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Nghệ An 2 đợt:

Đợt 1: từ ngày 14 tháng 12 năm 2017 đến ngày 25 tháng 12 năm 2017.

Đợt 2: từ ngày 23 tháng 02 năm 2018 đến ngày 05 tháng 3 năm 2018.

Đến 20 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 12 năm 2017 biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, L đã đến Công an huyện Nghi Lộc xin đầu thú và khai nhận hành vi của mình.

Theo đề nghị của anh Lương Văn T và người đại diện hợp pháp của anh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Lộc đã quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm thương tích trên cơ thể anh T bị đánh ngày 14 tháng 12 năm 2017. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 347/TTPY ngày 19 tháng 12 năm 2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: "Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 32% và đề nghị giám định lại sau khi vết thương ổn định".

Trên cơ sở yêu cầu của anh Lương Văn T và Trung tâm giám định pháp y tỉnh Nghệ An, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Lộc đã tiến hành trưng cầu giám định lại. Bản kết luận giám định lại pháp y về thương tích số 90/TTPY ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: "Tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 29%".

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo, người bị hại, người đại diẹn hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Kết luận giám định. Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu.

Bản Cáo trạng số 33/VKS-HS ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo L mức án từ 24 - 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 - 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tiêu hủy 01 gậy tre tròn đường kính 05 cm, chiều dài 60 cm; 01 đoạn sắt ống hình vuông có cạnh 02 cm, dài 160 cm bị bẻ cong gập.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi và rất ân hận. Bị cáo xin lỗi gia đình anh Lương Văn T. Giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại có mối quan hệ là anh em họ hàng. Vì vậy, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sửa chữa sai làm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, khung hình phạt: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2017, tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Lương Văn L đã có hành vi dùng gậy tre dài 60cm, đường kính 05cm đánh vào vùng thái dương của anh Lương Văn T gây thương tích với tỷ lệ thương tật 29%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên, khung hình phạt "Tội cố ý gây thương tích" quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn so với khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, để đảm bảo theo hướng có lợi cho bị cáo, cần áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An đã truy tố.

Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm.

Nhưng xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đó là: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm p khoản 1); bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại (điểm b khoản 1); sau khi phạm tội đã ra đầu thú (khoản 2), người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (khoản 2); ông bà nội, ông ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến và Bằng khen (khoản 2) nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, giữa bị cáo và người bị hại là anh em họ hàng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là đủ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại tổng số tiền 130.000.000 đồng. Tại phiên tòa người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị nếu sau này vết thương của người bị hại tái phát và phải điều trị thêm thì yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho người bị hại. Xét thấy: nếu sau này người bị hại có các tài liệu, chứng cứ phát sinh chứng minh về việc điều trị vết thương do bị cáo gây ra thì người bị hại có quyền khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác.

Về vật chứng: Đối với 01 gậy tre tròn đường kính 05 cm, chiều dài 60 cm; 01 đoạn sắt ống hình vuông có cạnh 02 cm, dài 160 cm bị bẻ cong gập là công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo Lương Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với ông Lương Văn Th và bị cáo Lương Văn L quá trình xô xát có bị thương tích, nhưng do ông Th, anh L từ chối giám định sức khỏe nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố bị cáo Lương Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Lương Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lương Văn L cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phố hợp với Ủy ban nhân dân xã N trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tiêu hủy 01 gậy tre tròn đường kính 05 cm, chiều dài 60 cm; 01 đoạn sắt ống hình vuông có cạnh 02 cm, dài 160 cm bị bẻ cong gập (hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 5 năm 2018).

Về án phí: bị cáo Lương Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ