- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HS-ST Ngày 31 tháng 7 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Huỳnh Thị Thu Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Duy Cửu
2. Ông Tán Nghị
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang tham gia phiên toà: ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Minh T- Sinh ngày 02/7/1992 tại Đà Nẵng.
Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần L, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị D, sinh năm 1966; Có vợ là Trần Thị Tr, sinh năm 1994 và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2012; con nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: Bà Phạm Thị Kim Th – sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn H - sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
+ Ông Trần L – sinh năm 1963; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết trước nhà chị Phạm Thị Kim Th thường xuyên để xe mô tô ở trong hiên phía sau nhà mà không dắt vào trong nhà cất giữ nên vào khoảng 23 giờ ngày 30 tháng 3 năm 2018, Trần Minh T đi bộ từ nhà mình qua nhà chị Th để trộm cắp xe mô tô. Khi đến nhà chị Th, T đi vào khu vực phía sau nhà, mở cửa lưới B40 thì thấy chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 43K1-152.00, trên xe không có chìa khóa xe nên dắt xe này ra ngoài đường theo hướng T đã đột nhập vào, khi đến đoạn đầu đường đi vào nhà chị Th thì T để xe ở đây rồi đi bộ về nhà mình lấy một tua vít màu đen dài khoảng 30cm lên lại vị trí để xe mở khóa xe. Tại đây, T dùng tua vít mở ba ga xe vứt xuống đất và mở các ốc, vít ở phần trước của xe để tìm cách nổ máy xe nhưng không nổ máy xe được nên T tiếp tục dắt xe đến khu vực đường đất vào đồi keo lá tràm thuộc thôn Phước Hưng, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang cất giấu rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 31 tháng 3 năm 2018, T điều khiển xe Wave alpha biển số 43S7-2906 chạy ra khu vực cất giấu xe mô tô 43K1-152.00 để mang xe này đi tiêu thụ. T giấu xe mô tô 43S7-2906 vào bụi cây rồi đến vị trí để xe mô tô 43K1-152.00, đồng thời dùng 2 dây điện mang theo đấu nối hệ thống điện của xe thì nổ máy xe được. Khi T vừa nổ máy xe 43K1-152.00 chạy đi thì bị lực lượng Công an huyện Hòa Vang phát hiện, thu giữ xe. Qua kiểm tra trong cốp xe mô tô 43K1-152.00 thấy có số tiền của chị Phạm Thị Kim Th để bên trong cốp xe trước khi bị mất là 19.795.000đ.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 11/KLGĐ ngày 03/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hòa Vang xác định chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS 43K1-152.00 có giá trị 14.700.000đồng
* Tang vật tạm giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS 43K1-152.00.
- 01 ba ga inox của xe mô tô, 02 kính chiếu hậu của của xe mô tô, 11 con ốc, vít các loại.
- 01 tua vít dài 30cm, cán nhựa màu đen; 02 đọan dây điện, mỗi đoạn dài 80cm.
- Số tiền 19.795.000đ
- 01 xe mô tô hiệu Honda Wave alpha BKS 43S7-2906
Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKSNDHHV ngày 19.6.2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ Luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Minh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù ; Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tua vít dài 30cm có cán nhựa màu đen; 02 đoạn dây điện, mỗi đoạn dài 80cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
Trần Minh T đã theo dõi, quan sát và biết nhà chị Phạm Thị Kim Th thường xuyên để xe máy ở ngoài hiên phía sau nhà nên vào khoảng 23 giờ ngày 30.3.2018, Trần Minh T đã lén lút thực hiện hành vi dắt trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS 43K1-152.00 và trong cốp xe có số tiền 19.795.000đ của chị Phạm Thị Kim Th. Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KLGĐ ngày 03/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hòa Vang xác định chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius BKS 43K1-152.00 có giá trị 14.700.000đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản mà T chiếm đoạt của chị Th là 34.495.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm như Cáo trạng số 31/CT-VKSNDHHV ngày 19.6.2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội, do đó cần thiết xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Phạm Thị Kim Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 tua vít dài 30cm có cán nhựa màu đen, 02 đoạn dây điện, mỗi đoạn dài 80cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo qui định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên tiến hành các hoạt động tố tụng đảm bảo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào: Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 tua vít dài 30cm có cán nhựa màu đen; 02 đoạn dây điện, mỗi đoạn dài 80cm.
(Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/7/2018)
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đồng.
Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 31.7.2018.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Hoà Vang; -VKSND tp ĐN; - Chi cục THADS huyện Hoà Vang; - Công an huyện Hoà Vang; - Phòng Kiểm tra TAND tpĐN; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (đã ký) Huỳnh Thị Thu Thƣơng |