- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A G cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùa A G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HS-ST Ngày 19-9-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Văn Tùng.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Sinh.
2. Ông Hà Văn Lỏn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang,Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thiều,Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Mùa A G; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1990 tại huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản M, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mùa A S1, sinh năm 1964 và bà Lầu Thị N, sinh năm 1967; bị cáo có vợ Sồng Thị D, sinh năm 1990 và 02 con, con lớn nhất 11 tuổi, con nhỏ nhất 09 tuổi; Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 16/4/2018 đến nay. Có mặt.
Người bị hại: Anh Đinh Trọng N; Sinh năm 1982; Địa chỉ: Tiểu khu 9, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 15/12/2017, thì Mùa A S, Mùa A G và Mùa A T uống rượu cùng Hờ A L tại phòng trọ của Lù ở tiểu khu 3, thị trấn B chơi. Một lúc sau, có Cấn Xuân Đ và Khuất Văn T là người cùng làm với Hờ A L đến cùng ngồi ăn cơm, uống rượu. Khi ngồi uống rượu giữa Mùa A G và Cấn Xuân Đ có xích mích dẫn đến cãi nhau nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó, tất cả nghỉ không ăn cơm, uống rượu nữa. L, Đ, T đi uống cà phê còn G điều khiển xe máy chở Mùa A T về nhà ở bản M, thị trấn B, do vẫn còn bực tức nên G đã đi vào nhà bếpcủa gia đình cầm 01 con dao quắm dài 1,1m, lưỡi dao dài 42,5cm, cán dao bằng gỗ để ở hiên nhà bếp rồi điều khiển xe máy quay lại phòng trọ của anh Hờ A L tìm Đ để giải quyết mâu thuẫn. Đến phòng trọ của L, lúc này cổng xóm trọ đang mở, xóm trọ đã tắt điện còn mỗi phòng L sáng đèn nhưng đã đóng cửa, G cầm con dao quắm chém vào cổng xóm trọ hai phát và nói “lúc nãy có người thích đánh nhau lắm mà ra đây” nhưng không thấy ai trả lời, G đi vào trong xóm trọ thì anh Mùa A C, Mùa A T, Mùa A N1 (người cùng bản với G) ra can ngăn nhưng G không nghe. Lúc này, anh Đinh Trọng N là con đẻ của ông Đinh Văn I chủ xóm trọ đang ở trong nhà nghe tiếng ồn ào bên khu xóm trọ chạy ra xem, anh N nhặt lấy một thanh cây củi dài khoảng 01m trong đống củi được xếp ở lối cổng đi vào nhà rồi đi cắt ngang qua đường tỉnh lộ 112 đến gần cổng xóm trọ, hai người lời qua tiếng lại. N đi đến đoạn dốc bê tông có độ dốc khoảng 35 độ hướng vào khu cổng xóm trọ, cách vị trí G đang đứng khoảng 01m, N dùng tay phải cầm thanh củi vừa nhặt được vụt từ trên xuống nhằm vào khoảng không trước mặt G, cách mặt G khoảng 50cm để dọa G, thấy G vẫn đứng im. N tiếp tục giơ thanh củi lên định vụt một lần nữa vào khoảng không trước mặt G cách khoảng 20cm để dọa G; thấy vậy G dùng hai tay, trong đó tay trái cầm phần trên cán dao, tay phải cầm phần dưới cán dao vung con dao lên qua đầu nhằm vào cổ tay đang cầm gậy của N ở khoảng không trước mặt, chém từ trên xuống dưới, khi đường dao của G đi được khoảng ½ G trượt chân, mất đà nên ngã lao đầu về phía trước phía N đang đứng làm đường dao của G chém gần cụt bàn tay phải của anh N và trúng vào phần má bên phải của anh N. N được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện B, sau đó được đưa đi điều trị tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức, còn G khi chém anh N xong đã chạy xuống dưới đường Quốc lộ 37 thì bị tổ Công tác Công an huyện B dẫn giải đến Công an huyện để lấy lời khai. Đến ngày 16/4/2018 Mùa A G bị bắt tạm giam.
Về vật chứng của vụ án gồm:
- Thu giữ tại hiện trường: 01 đoạn gỗ dài 51cm, đường kính thân trung bình 3,5cm, một đầu đoạn gỗ bị mục, có nhánh mọc ngang dài 12cm, phần còn lại đoạn gỗ có dấu vết khớp dài 12,5cm, rộng 3,2cm, phần vỏ dưới của đoạn gỗ có nhiều vết màu đỏ nghi là máu; 01 mẩu gỗ dài 26cm, rộng 3,1cm, một mặt mẩu gỗ có hình cung, một mặt mẩu gỗ nham nhở, có dấu vết khớp với đoạn gỗ khác, trên dấu vết khớp có nhiều chấm màu đỏ (nghi là máu); 01 đoạn gỗ dài 61cm, đường kính trung bình 3,1cm, một đầu đoạn gỗ có dấu vết chặt sắc gọn, một đầu đoạn gỗ còn lại có dấu vết khớp dài 14cm, rộng 3,1cm, trên vỏ có nhiều vết màu đỏ tươi lẫn thẫm trên diện rộng (nghi là máu); 01 sợi dây chuyền màu bạc dài 52cm, rộng 0,7cm, hai đầu sợi dây chuyền không có lẫy nối; 01 chiếc mũ vải dài 31cm, rộng 21cm, màu xám, phần dưới của mũ có gắn 01 chiếc khóa séc màu đen dài 37,5 cm, phần chỉ gắn séc với áo bị đứt rời; 01 con dao quắm dài 1,1m, phần thân dao bằng kim loại dài 42,5cm (loại dao một lưỡi), bản dao rộng nhất 4,5cm, sống dao dày trung bình 0,6cm, lưỡi dao dài 33,5cm (trong đó phần quắm dao dài 85cm), tiếp giáp với lưỡi dao là một đoạn nối bằng kim loại dài 09cm; gắn với một thanh gỗ dài 67,5cm, có đường kính trung bình 03cm, chu vi 11cm, cách đầu lưỡi dao 10cm tại hai mặt lưỡi dao có nhiều vết máu kích thước lần lượt là 11x4cm và 10x3cm; 30gam đá sỏi bên trên có bám dính nhiều dấu vết màu đỏ (nghi máu); 03 mẩu bông kích thước 2x3cm thẫm các mẫu nghi là máu.
- Thu của bị cáo Mùa A G: 01 Chứng minh nhân dân số 050813343 mang tên Mùa A G; 01 giấy phép lái xe số: AM 232962 mang tên Mùa A G; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc Trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô – xe máy số 011388591; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn con người và cháy nổ mô tô – xe máy số 011388591; 01 điện thoại di động vỏ màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mặt trước màn hình bung ra khỏi máy; 01 xe máy JUPITER CRAVITA màu đen bạc, ở đèn chiếu sáng bên trước cả hai bên có vết xước nham nhở, xe có BKS: 26K6-6350; 01 chìa khóa xe máy số B 62810; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 085323 mang tên Mùa A G; 01 chiếc áo khoác màu đen, hai bên ngực có màu chấm trắng đen, đằng trước có dây khóa kéo, bên trong áo có chữ Feng Piao, XXL; 01 áo phông cộc tay màu hồng có cổ, bị rách trước ngực, bên trong cổ có chữ M8N; 01 quần bò màu đen bạc, phía sau cạp quần có chữ Lvei’s;
- Thu của Đinh Trọng N: 01 quần dài loại quần gió màu tím than, mặt trước vị trí túi quần bên phải có dính vết bẩn màu đỏ (nghi là máu), đầu gối trái có dính vết bẩn màu đỏ (nghi là máu), mặt sau vị trí ống quần bên phải dính vết bẩn màu đỏ (nghi là máu), khớp khuỷu quần bên trái dính vết bẩn màu đỏ (nghi là máu).
Ngày 15/12/2017, Cơ quan chức năng đã tiến hành xem xét dấu vết thân thể Đinh Trọng N: Tại gò má có vết thương gọn kích thước 12 cm x 2cm đang chảy máu và tại 1/3 cẳng tay phải cụt rời chảy máu phun thành tia.
Ngày 22/12/2017 Đinh Trọng N có đơn đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Mùa A G về hành vi cố ý gây thương tích. Yêu cầu Mùa A G bồi thường toàn bộ tiền chi phí điều trị, tổn hại sức khỏe với tổng số tiền là 120.000.000 đồng.
Ngày 10/01/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La giám định tỷ lệ thương tích và cơ chế hình thành dấu vết thương tích của Đinh Trọng N. Ngày 12/3/2018, Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La có bản kết luận giám định số: 33/TgT, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 64%; cơ chế hình thành thương tích vùng mặt, tay phải của Đinh Trọng N là do tác động tương hỗ của vật có cạnh sắc gây ra.”
Căn cứ tại Bệnh án ngoại khoa số vào viện: 1710113 ngày 20/12/2017của Bệnh viện đa khoa huyện B và Bệnh án ngoại khoa số vào viện: 60005 ngày 27/12/2017 của Bệnh viện hữu nghị Việt Đức Hà Nội, tổng số tiền điều trị, tiền thuốc, viện phí của Đinh Trọng N là 60.462.846 đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản chi phí điều trị , chi phí cho người chăm sóc và tổn thất tinh thần tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Ngày 22/01/2018, bị cáo Mùa A G cùng gia đình đã đến thăm hỏi và bồi thường cho anh N số tiền 60.000.000 đồng, sau đó gia đình G tiếp tục bồi thường số tiền 29.000.000 đồng. Anh N không yêu cầu Mùa A G bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa công khaibị cáo Mùa A G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-BYngày 17 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, truy tố bị cáo Mùa A G phạm tội “Cố ý gây thương tích” theokhoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999xử phạt bị cáo Mùa A G mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999;điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghịtịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm:01 đoạn gỗ dài 51cm, đường kính thân trung bình 3,5cm; 01 mẩu gỗ dài 26cm, rộng 3,1cm; 01 đoạn gỗ dài 61cm, đường kính trung bình 3,1cm;01 con dao quắm dài 1,1m; 30gam đá sỏi; 03 mẩu bông. Trả lại cho bị cáo Mùa A G: 01chiếc mũ vải dài 31cm, rộng 21cm, màu xám; 01 sợi dây chuyền màu bạc dài 52cm, rộng 0,7cm, hai đầu sợi dây chuyền không có lẫy nối; 01 Chứng minh nhân dân số 050813343 mang tên Mùa A G; 01 giấy phép lái xe số: AM 232962 mang tên Mùa A G; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc Trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô – xe máy số 011388591; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn con người và cháy nổ mô tô – xe máy số 011388591; 01 điện thoại di động vỏ màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mặt trước màn hình bung ra khỏi máy; 01 xe máy JUPITER CRAVITA màu đen bạc, BKS: 26K6-6350; 01 chìa khóa xe máy số B 62810; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 085323 mang tên Mùa A G; 01 chiếc áo khoác màu đen, hai bên ngực có màu chấm trắng đen, đằng trước có dây khóa kéo, bên trong áo có chữ Feng Piao, XXL; 01 áo phông cộc tay màu hồng có cổ, bị rách trước ngực, bên trong cổ có chữ M8N; 01 quần bò màu đen bạc, phía sau cạp quần có chữ Lvei’s. Trả lại cho anh Đinh Trọng N: 01 quần dài loại quần gió màu tím than.Áp dụng đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo Mùa A G.
Ý kiến củabị cáo Mùa A G tự bào chữa:Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Ý kiến của bị hại Đinh Trọng N: Bị cáo cùng gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại tổng số tiền 89.000.000 đồng (tám mươi chín triệu đồng), hiện gia đình bị cáo có nhiều khó khăn nên bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Mùa A G, có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/12/2017, do có mâu thuẫn từ trước với Cấn Xuân Đ tại phòng trọ của Hờ A L ở tiểu khu 3, thị trấn B, Mùa A G đã về nhà ở bản M, thị trấn B lấy 01 con dao quắm dài 1,1m, lưỡi dao dài 42,5cm, cán dao bằng gỗ đến phòng trọ của anh Hờ A L tìm Đ để giải quyết mâu thuẫn. Đến phòng trọ của L, G cầm con dao quắm chém vào cổng xóm trọ hai phát và nói “lúc nãy có người thích đánh nhau lắm mà ra đây” nhưng không thấy ai trả lời, G đi vào trong xóm trọ thì anh Mùa A C, Mùa A T, Mùa A N1 ra can ngăn nhưng G không nghe. Khi Đinh Trọng N là con của chủ nhà trọ ra yêu cầu mọi người giải tán thì Mùa A G và Đinh Trọng N có lời qua tiếng lại với nhau. N dùng tay phải cầm thanh củi dài 1m vừa nhặt được vụt từ trên xuống nhằm vào khoảng không trước mặt G, cách mặt G khoảng 50cm để dọa G, thấy G vẫn đứng im. N tiếp tục giơ thanh củi lên định vụt một lần nữa vào khoảng không trước mặt G để dọa G; thấy vậy bị cáo G dùng hai tay, cầm dao vung lên qua đầu nhằm vào cổ tay đang cầm gậy của N, chém từ trên xuống dưới, khi đường dao của G đi được khoảng ½ G trượt chân, mất đà nên ngã lao đầu về phía trước phía N đang đứng làm đường dao của G chém gần cụt bàn tay phải của anh N và trúng vào phần má bên phải của anh N.
Theo kết luận giám định pháp ý về thương tích số 33/TgT ngày 12/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La kết luận” sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ảnh hưởng thẩm mỹ (xếp 11%), sẹo vết thương phần mềm vùng tay, kích thước nhỏ (xếp 3%), gẫy hai xương cẳng tay (xếp 11%), đứt gân gấp cổ tay đã khâu nối ảnh hưởng ít đến động tác khớp cổ tay (xếp 3%), đứt gân duỗi cổ tay đã khâu nối ảnh hưởng ít đến động tác khớp cổ tay (xếp 3%), đứt động mạch quay, trụ đã khâu nối kết quả tốt không có biểu hiện thiếu máu nuôi dưỡng (xếp 4%), tổn thương nhánh thần kinh VII (xếp 7%), tổn thương nhánh thần kinh quay (xếp 11%), tổn thương nhánh thần kinh trụ (xếp 11%), tổn thương nhánh thần kinh giữa (xếp 11%), tổn thương tuyến nước bọt (xếp 21%). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 64,05% (làm tròn số là: 64%). Theo nguyên tắc cộng lùi. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 64%. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vùng mặt, tay phải của Đinh Trọng N là do tác động tương hỗ của vật có cạnh sắc gây ra.
Xét hành vi trên củabị cáo là nguy hiểm cho xã hội,đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người, quyền này đã được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ, làm tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của người khác, gâyảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưngbị cáo đã cố ý dùng vũ lực có sử dụng hung khí nguy hiểm là con dao quắm tác động lên cơ thể anh Đinh Trọng N (nhằm vào cổ tay) gây thương tích cho anh N mà tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 64%. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của của bị cáo Mùa A G đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999và quy định tại điểm b, khoản 4, điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, nhưng do thời điểm phạm tội trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật việc xét xử bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 theo hướng có lợi cho bị cáo như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Mùa A G: Bị cáo đã sử dụng con dao quắm là hung khí nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự gây thương tích cho anh N với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định của cơ quan chức năng là 64%. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng được quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 có mức hình phạt tù từ 5 năm đến 15 năm.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mùa A G:
Về tình tiết tăng nặng: xét bị cáo chỉ vì một lý do nhỏ nhặt không đáng song bị cáo đã thể hiện thái độ hung hãn coi thường người khác, coi thường pháp luật về tận nhà cách khu nhà trọ gần 2 km lấy dao đến chém hai phát vào cổng nhà trọ đồng thời đe dọa uy hiếp người khác, khi bị người bị hại ra yêu cầu giải tán không gây mất trật tự mặc dù trước đó hai bên không hề quen biết nhau, không có mâu thuẫn thù oán gì, nhưng bị cáo không những không nghe còn chửi lại sau đó sông vào dùng dao gây thương tích cho bị hại nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d, khoản 1, điều 48 Bộ luật hình sự 1999.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại phiên tòa bị cáo đã trực tiếp xin lỗi người bị hại và gia đình. Dù hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn thuộc hộ cận nghèo song bị cao đã tác động cùng gia đình đi vay mượn tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả. Bản thân bị cáo trong quá trình tham gia quân ngũ tại Bộ đội biên phòng tỉnh Sơn La nhiều năm được công nhân là chiến sỹ tiên tiến, được Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Sơn La tặng ba giấy khen. Ông ngoại bị cáo là Lầu A D được Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tặng bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế. Người bị hại cũng có lỗi một phần trong cách xử sự , đồng thời người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Nên bị cáo Mùa A G được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểmb, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạttương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân củabị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.
Về vật chứng của vụ án. Đối với số vật chứng gồm:01 đoạn gỗ dài 51cm, đường kính thân trung bình 3,5cm; 01 mẩu gỗ dài 26cm, rộng 3,1cm; 01 đoạn gỗ dài 61cm, đường kính trung bình 3,1cm; 01 con dao quắm dài 1,1mlà công cụ, phương tiện phạm tội và30gam đá sỏi; 03 mẩu bông thu giữ tại hiện trường không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số vật chứng gồm: 01 sợi dây chuyền màu bạc dài 52cm, rộng 0,7cm, hai đầu sợi dây chuyền không có lẫy nối; 01 chiếc mũ vải dài 31cm, rộng 21cm, màu xám; 01 Chứng minh nhân dân số 050813343 mang tên Mùa A G; 01 giấy phép lái xe số: AM 232962 mang tên Mùa A G; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc Trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô – xe máy số 011388591; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn con người và cháy nổ mô tô – xe máy số 011388591; 01 điện thoại di động vỏ màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mặt trước màn hình bung ra khỏi máy; 01 xe máy JUPITER CRAVITA màu đen bạc, BKS: 26K6-6350; 01 chìa khóa xe máy số B 62810; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 085323 mang tên Mùa A G; 01 chiếc áo khoác màu đen, hai bên ngực có màu chấm trắng đen, đằng trước có dây khóa kéo, bên trong áo có chữ Feng Piao, XXL; 01 áo phông cộc tay màu hồng có cổ, bị rách trước ngực, bên trong cổ có chữ M8N; 01 quần bò màu đen bạc, phía sau cạp quần có chữ Lvei’s là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Mùa A G cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 chiếc quần dài loại quần gió màu tím than là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đinh Trọng N cần trả lại cho anh N.
Vì vậycần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo, gia đình bị cáo và người bị hại Đinh Trọng N đã tự nguyện thỏa thuận, bị cáo Mùa A G bồi thường các khoản chi phí điều trị chữa bệnh, chi phí cho người chăm sóc và tổn thất tinh thần cho bị hại với tổng số tiền 89.000.000 đồng. Bị hại anh Đinh Trọng N đã nhận đủ số tiền 89.000.000 đồng (tám mươi chín triệu đồng). Tại phiên tòa Đinh Trọng N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác. Xét việc thỏa thuận bồi thường giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần ghi nhận.
Đối với Đinh Trọng N, khi thấy G cầm dao đến gây ồn ào tại xóm trọ của bố N là Đinh Văn I, Nghĩa đã nhặt lấy một thanh củi đi tới gần cổng xóm trọ và giơ thanh củi vụt vào khoảng không trước mặt Mùa A G nhằm mục đích dọa G để không tụ tập gây mất trật tự tại xóm trọ. Hành vi của N không nhằm mục đích xâm hại tính mạng, sức khỏe của ai nên không có cơ sở xem xét, xử lý.
Về án phí: Gia đình bị cáo Mùa A G thuộc hộ cận nghèo của thị trấn B, huyện B thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mùa A G phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ khoản 3 điều 104; điểm d, khoản 1, Điều 48; điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Mùa A G 05 năm (năm năm) 06 tháng (sáu tháng) tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 16/4/2018 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01(một) đoạn gỗ dài 51cm, đường kính thân trung bình 3,5cm, một đầu đoạn gỗ bị mục, có nhánh mọc ngang dài 12cm, phần còn lại của đoạn gỗ có dấu vết khớp dài 12,5cm, rộng 3,2cm, phần vỏ dưới của đoạn gỗ có nhiều vết màu đỏ; 01(một) mẩu gỗ dài 26cm, rộng 3,1cm, một mặt mẩu gỗ có hình cung, một mặt mẩu gỗ nham nhở có dấu vết khớp với đoạn gỗ khác, trên dấu vết khớp có nhiều chấm màu đỏ; 01(một) đoạn gỗ dài 61cm, đường kính trung bình 3,1cm, một đầu đoạn gỗ có dấu vết chặt sắc gọn, một đầu đoạn gỗ còn lại có dấu vết khớp dài 14cm, rộng 3,1cm trên vỏ có nhiều vệt màu đỏ tươi lẫn thẫm trên diện rộng; 01(một) con dao quắm dài 1,1m phần thân dao bằng kim loại dài 42,5cm, bản dao rộng nhất 4,5cm, sống dao dày trung bình 0,6cm, lưỡi dao dài 33,5cm, tiếp giáp với lưỡi dao là một đoạn nối bằng kim loại dài 09cm được gắn với một thanh gỗ dài 67,5cm có đường kính trung bình 03cm, chu vi 11cm, cách dầu lưỡi dao 10cm tại hai mặt lưỡi dao có nhiều dấu vết máu, kích thước lần lượt là 11x4cm và 10x3cm; 30gam đá sỏi bên tren có bám dính nhiều dấu vết máu; 03 mẩu bông kích thước trung bình 02x03cm.
Trả lại cho bị cáo Mùa A G: 01(một)sợi dây chuyền màu bạc dài 52cm, rộng 0,7cm, hai đầu sợi dây chuyền không có lẫy nối; 01chiếc mũ vải dài 31cm, rộng 21cm, màu xám phần dưới của mũ có gắn một chiếc khóa séc màu đen dài 37,5cm, phần chỉ gắn séc với áo bị đứt rời; 01 Chứng minh nhân dân số 050813343 mang tên Mùa A G; 01 giấy phép lái xe số: AM 232962 mang tên Mùa A G; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc Trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô – xe máy số 011388591; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện tai nạn con người và cháy nổ mô tô – xe máy số 011388591; 01 điện thoại di động vỏ màu xanh đen, nhãn hiệu NOKIA, vỏ mặt trước màn hình bị bung ra khỏi máy; 01 xe máy JUPITER CRAVITA màu đen bạc, ở đèn chiếu sáng bên trước cả hai bên có vết sước nham nhở, BKS: 26K6-6350; 01 chìa khóa xe máy số B 62810; 01 giấy đăng ký mô tô, xe máy số 085323 mang tên Mùa A G; 01 chiếc áo khoác màu đen, hai bên trước ngực có màu chấm trắng đen, đằng trước có dây khóa kéo, bên trong mác áo có chữ Feng Piao, XXLvà một số chữ tượng hình, trên cổ áo và bên trong rách nhiều chỗ, bên ngoài đoạn vai trái và trước ngực có dính một số vết màu nâu đỏ; 01 áo phông cộc tay màu hồng có cổ, bị rách trước ngực, bên trong cổ có chữ M8N; 01 quần bò màu đen bạc, phía sau cạp quần có chữ Lvei’s.
Trả lại cho anh Đinh Trọng N: 01 quần dài loại quần gió màu tím than, mặt trước vị trí túi quần bên phải có dính vết bẩn màu đỏ, đầu gối trái có dính vết bẩn màu đỏ, mặt sau vị trí ống quần bên phải dính vết bẩn màu đỏ, quần đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Ghi nhận bị cáo Mùa A G và gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Đinh Trọng N bao gồm: chi phí điều trị chữa bệnh, chi phí cho người chăm sóc và tổn thất tinh thần với tổng số tiền 89.000.000 đồng (tám mươi chín triệu đồng). Anh N đã nhận đủ số tiền bồi thường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác.
Về Án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo Mùa A G
Báo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La; -Sở tư pháp tỉnh Sơn La; -VKSND huyện B; -CA huyện B; -Trại tạm giam; -Chi cục THADS huyện B; -Bị cáo; -Bị hại; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Văn Tùng |