- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "“Tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”"
- Tòa quyết gì? Á p du ̣ng khoản 1 Điều 14, các Điều 15, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HNGĐ-ST Ngày 29-5-2018 V/v “Tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thay;
Ông Nguyễn Minh Tuấn.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Dũng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2018/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2018/QĐXX-ST, ngày 13 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1990; cư trú tại: Tổ 10, ấp Tân X, xã Tân P, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Đặng Văn V, sinh năm 1977; cư trú tại: Tổ 10, ấp Tân X, xã Tân P, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 17-01-2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Ngọc T trình bày: Chị và anh Đặng Văn V chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2005, nhưng không đăng ký kết hôn.
Trong thời gian chung sống, khoảng 02 năm trở lại đây giữa chị và anh V phát sinh mâu thuẫn, mà nguyên nhân do anh V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, nên giữa hai người thường xuyên cãi vã, gây gổ với nhau, cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc, chị và anh V không còn sống chung đến nay khoảng 02 năm. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết việc chung sống giữa chị và anh V theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Có một cháu tên Huỳnh Thị Ngọc N, sinh ngày 05-8-2006 đang sống với chị, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Lời khai của anh Đặng Văn V: Anh và chị Huỳnh Ngọc T chung sống như vợ, chồng từ năm 2005, nhưng không đăng ký kết hôn.
Anh V thừa nhận có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác đúng như chị T trình bày, việc xảy ra mâu thuẫn trên không phải lỗi chỉ do mình anh, vì chị T cũng thường xuyên tụ tập bạn bè để đi chơi, uống rượu, không quan tâm chăm sóc con, nên giữa anh và chị T thường xuyên cãi vã, gây gổ nhau và anh chị không còn sống chung khoảng 02 năm. Anh V cũng đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết việc chung sống như vợ, chồng giữa anh và chị T theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Có một cháu tên Huỳnh Thị Ngọc N, đang sống với chị T, anh V đồng ý giao cháu N cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ta ̣i phiên tòa hôm nay, chị T, anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung: Chị Huỳnh Ngọc T và anh Đặng Văn V chung sống với nhau từ năm 2005, nhưng đến nay anh, chị vẫn không đăng ký kết hôn, trong thời gian chung sống giữa hai người phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thuân khoảng 02 năm. Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình thì việc chung sống giữa chị T và anh V không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng; về con chung có một cháu, anh V đồng ý giao con chung cho chị T nuôi dưỡng theo yêu cầu của chị T, ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung ghi nhận chị T, anh V không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, thấy rằng:
Về tố tụng: Chị Huỳnh Ngọc T và anh Đặng Văn V là nguyên đơn, bị đơn trong vụ án trong vụ án vắng mặt, nhưng đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ các thủ tục đảm bảo cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Huỳnh Ngọc T và anh Đặng Văn V chung sống như vợ, chồng từ năm 2005, nhưng không đăng ký kết hôn và trong quá trình chung sống cho đến nay chị T, anh V cũng không thực hiện việc đăng ký kết hôn là vi phạm theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình, nên việc chung sống như vợ, chồng giữa chị T và anh V không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Về con chung, có một cháu tên Huỳnh Thị Ngọc N, sinh ngày 05-8-2006 đang sống với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh V đồng ý giao cháu N cho chị T nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh V không yêu cầu giải quyết.
Tiền tạm ứng án phí; nghĩa vụ nộp án phi dân sự sơ thẩm được xử lý theo
́ quy định tại Điều 144, 147 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vi các le trên,̃
̀
QUYẾT ĐỊNH:
Á p du ̣ng khoản 1 Điều 14, các Điều 15, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Ngọc T về việc “Tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”. Việc chung sống giữa chị Huỳnh Ngọc T và anh Đặng Văn V không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Ngọc N, sinh ngày 05-8-2006 cho chị Huỳnh Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Anh Đặng Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Ngọc T và anh Đặng Văn V không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Chị Huỳnh Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0025145, ngày 22 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết bản án này tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Châu; - Chi cục THADS huyện Tân Châu; - Cá c đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập á n, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Trần Quốc Vũ |