- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Trần Thị C và Thái Thị L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị C:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂNDÂN HUYỆN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 30/2018/DS.ST Ngày: 30 - 7 - 2018 V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tú Anh
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Hồ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình
Tân, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên tòa:
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2018/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2018 về việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1959 (Có mặt)
Địa chỉ : Tổ 03, ấp T, xã Q, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.
2 Bị đơn: Bà Thái Ái L, sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ : Tổ 08, ấp T, xã Q, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản khai ngày 30/5/2018 và trong qua trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:
Vào ngày 25/01/2016 (Âm Lịch) bà Thái Ái L có mở dây hụi 3.000.000 đ (Ba triệu đồng), hụi này do bà L làm chủ hụi, hụi khui hàng tháng, gồm có 21 phần hụi, mãn ngày 25/10/2017 (Âm lịch). Trong dây hụi này bà có tham gia 02 phần, bà đóng được 13 lần hụi sống, đến lần thứ 14 (25/02/2017Âm lịch) thì bà L không khui hụi, góp hụi cho đến nay. Như vậy trong dây hụi này bà Thái Ái L còn nợ bà số tiền là 78.000.000 đồng. Thời gian qua bà nhiều lần yêu cầu bà L phải trả cho bà số tiền 78.000.000 đồng nhưng bà L cố tình trốn tránh không trả tiền. Bà L chơi hụi trực tiếp với bà nên bà chỉ yêu cầu bà L trả tiền, không yêu cầu người nào khác cùng trả số tiền này.
Nay bà L nói hoàn cảnh khó khăn chỉ đồng ý trả số tiền gốc 65.000.000 đồng thì bà không đồng ý. Bà yêu cầu bà L trả tiền gốc là 65.000.000 đồng và trả tiền lãi là 5.000.000 đồng. Tổng cộng bà L phải trả tiền gốc và lãi là 70.000.000 đồng.Ngoài ra không yêu cầu nào khác.
- Bị đơn chị Thái Ái L trình bày: Vào ngày 25/01/2016 (Âm lịch) chị có mở dây hụi 3.000.000 đồng/tháng. Hụi khui vào ngày 25 hàng tháng, gồm 21 phần, bà Trần Thị C tham gia 02 phần (mỗi phần là 3.000.000 đồng) Hụi khui được 13 lần thì bể hụi vào ngày 25/02/2017 (âm lịch), mỗi lần khui kêu 500.000 đồng, tức là mỗi phần sống phải đóng 2.500.000 đồng, phần hụi chết phải đóng 3.000.000 đồng, bà C đóng đóng cho chị được 13 lần hụi sống với tổng số tiền là: 13 lần x 2 phần x 2.500.000 đ = 65.000.000 đồng. Đến lần thứ 14 thì chị bể hụi lý do bể hụi là do các tay em khác đã hốt hụi xong mà không đóng lại cho chị. Vì thế chị không tràn qua cho các tay em khác được. Chị đồng ý trả cho bà C số tiền là 65.000.000 đồng tiền gốc, chị xin phần tiền lãi. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét nguyên đơn và bị đơn tranh chấp hợp đồng góp hụi là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét bà Trần Thị C yêu cầu chị Thái Ái L trả số tiền hụi gốc 65.000.000 đồng là có căn cứ. Tại phần tranh tụng tại phiên tòa, do chị L trình bày hoàn cảnh khó khăn nên xin trả cho bà C số tiền hụi gốc là 65.000.000 đồng, xin phần tiền lãi nên được bà C đồng ý. Vì vậy, chị Liên phải có nghĩa vụ trả cho bà C số tiền hụi gốc là 65.000.000 đồng. Bà C không yêu cầu chị L phải trả tiền lãi nên không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Thái Ái L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.250.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 463, 466, 471 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 26, 35, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Trần Thị C:
- Buộc chị Thái Ái L phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị C số tiền hụi gốc là 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Buộc chị Thái Ái L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.250.000 đồng.
2.2. Trả cho bà Trần Thị C số tiền tạm ứng án phí 1.950.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0012190 ngày 30/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Án xử công khai có mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Bình Tân; - CCTHADS huyện Bình Tân; - Các đương sự; - Lưu | (Đã ký) Nguyễn Văn Dũng |