vanban.org

Bản án 30/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TX. Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn bà Trương T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M, ông Đỗ V cùng phải trả một lần cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Phòng giao dịch A số tiền là: 31.627.812đ (Ba mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn tám trăm mười hai ngàn đồng), trong đó: tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Trương T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2018/DS-ST
Ngày 24-9-2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thùy My

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chuyển

Ông Nguyễn Lơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2018/TLST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 6 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2018/QĐST-DS ngày 07 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Trụ sở: Số 02 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Địa chỉ liên lạc: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Ninh Hòa - Phòng giao dịch A tại thôn N, xã A, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê T – Chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch A (theo Giấy ủy quyền số 07NA/NHNO-UQ, ngày 23/10/201 ), bà T có mặt.

Bị đơn: Bà Trương T1, sinh năm 196 . Địa chỉ: Thôn G, xã A, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ M, sinh năm 196 và ông Đỗ V, sinh năm 199 . Địa chỉ: Thôn G, xã A, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/201 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê T trình bày: Ngày 06 tháng 4 năm 201 , bà Trương T1 có ký với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam - Chi nhánh Ninh Hòa - Phòng giao dịch A hợp đồng tín dụng số 4704LAV201601... để vay số tiền 25.000.000 đồng, mục đích chăn nuôi bò, sản xuất lúa và hoa màu. Lãi suất cho vay theo từng giấy nhận nợ là 9.0%/năm. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng. Phân kỳ trả nợ như sau: Kỳ 1 trả vào ngày 30/4/2017 với tiền gốc 5.000.000 đồng và tiền lãi theo tiền gốc; kỳ 2 trả vào ngày 22/4/2018 với tiền gốc 20.000.000 đồng và tiền lãi theo tiền gốc. Lãi suất cho vay áp dụng theo lãi suất thả nổi điều chỉnh 3 tháng một lần vào ngày 20 của tháng cuối quý. Từ ngày nhận tiền vay ngày 22/4/2016 đến nay bà Trương T1 chưa trả cho Ngân hàng khoản tiền gốc, tiền lãi nào.

Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà Trương T1, ông Đỗ M và ông Đỗ V vẫn cố tình kéo dài, không có thiện chí trả nợ. Do bà T1, ông M và ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên toàn bộ dư nợ chuyển sang nợ quá hạn. Nay ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Trương T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M và ông Đỗ V thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 24 tháng 9 năm 2018 là 31.627.812 đồng, trong đó: Tiền gốc 25.000.000đ, tiền lãi trong hạn 5.851.389đ.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê T xác định yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1, ông M và ông V trả một lần khoản nợ trên cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu gì thêm.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn bà Trương T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M, ông Đỗ V để lấy lời khai nhưng đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa trình bày quan điểm: Về chấp hành pháp luật, Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn bà T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M, ông V đã được Tòa tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng họ vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Bà T1 là người đại diện hộ gia đình trực tiếp ký hợp đồng vay Ngân hàng, ông M và ông V là các thành viên trong hộ gia đình hiện nay còn nợ số tiền 31.627.812 đồng nhưng đều không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Trương T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M, ông Đỗ V đã được Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện: Vào ngày 06 tháng 4 năm 201 , Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Ninh Hòa - Phòng giao dịch A và đại diện của hộ gia đình là bà Trương T1 có ký kết hợp đồng tín dụng số 4704LAV201601… để vay số tiền 25.000.000 đồng, mục đích chăn nuôi bò, sản xuất lúa và hoa màu. Lãi suất cho vay là 9.0%/năm tại thời điểm ký hợp đồng. Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng; cho vay không có bảo đảm tài sản. Xét hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Tòa án công nhận hợp đồng tín dụng là hợp pháp.

Xét yêu cầu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam buộc bà Trương T1, ông Đỗ M và ông Đỗ V phải trả số tiền 31.627.812 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Đến ngày hết hạn trả nợ bà Trương T1, ông Đỗ M và ông Đỗ V không trả trả nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã ký kết tại hợp đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án bà T1, ông M và ông V không đến Tòa án để giải quyết cũng không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh là xem như họ tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Trên cơ sở xem xét quan điểm trình bày của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc bà T1, ông M và ông V trả số tiền 31.627.812 đồng.

Đối với Giấy cam kết kèm theo hợp đồng tín dụng ghi ngày 04/6/201 , người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tại Điều 5 qui định về hình thức bảo đảm tiền vay: Cho vay không có bảo đảm tài sản.

Về án phí: Bị đơn bà Trương T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M và ông Đỗ V cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả theo quy định của pháp luật.

Hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bị đơn bà Trương T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M, ông Đỗ V cùng phải trả một lần cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Phòng giao dịch A số tiền là: 31.627.812đ (Ba mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi bảy ngàn tám trăm mười hai ngàn đồng), trong đó: tiền gốc 25.000.000đ, tiền lãi trong hạn 5.851.389đ, tiền lãi quá hạn 776.423đ (lãi tính đến ngày 24 tháng 9 năm 2018).

Quy định chung: Kể từ ngày tiếp theo là ngày 25 tháng 9 năm 2018, bị đơn bà Trương T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ M, ông Đỗ V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

- Bà Trương T1, ông Đỗ M và ông Đỗ V cùng phải chịu án dân sự sơ thẩm với số tiền là 1.581.390đ (Một triệu năm trăm tám mươi mốt ngàn ba trăm chín mươi đồng).

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 721.000đ (Bảy trăm hai mươi mốt ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/00035… ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ