- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết Th. phạm tội "Cố ý gây thương tích". - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ l…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết Th.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 30/2017/HSST |
Ngày 29/6/2017
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP -TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bích Lài,
Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Lê Minh Tƣờng.
2, Bà Phan Thị Tâm.
Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sƣơng, Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Quỳ hợp, tỉnh Nghệ an.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trƣơng Ngọc Ký, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2017/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Viết T, tên gọi khác: Không. Sinh năm 1987 tại huyện Q. H, tỉnh Nghệ An. Nơi cƣ trú: Xóm K. Q, xã C. Q, huyện Q. H, tỉnh Nghệ An. Số CMND: 0186701095. Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Con ông Nguyễn Viết L. và bà Hồ Thị T. Vợ: Nguyễn Thị T. và 01 ngƣời con. Tiền sự, tiền án: Không. Bị bắt tạm giam ngày 07 tháng 3 năm 2017. Huỷ bỏ biện pháp tạm giam ngày 01 tháng 6 năm 2017.
(Có mặt)
Ngƣời bị hại: Ông Trịnh Quang V, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1943.
Nơi cƣ trú: Xóm K. Q, xã C. Q, huyện Q. H, tỉnh Nghệ An.
(Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 8 giờ ngày 09/12/2016, ông Trịnh Quang V, sinh năm 1943 cùng con trai là anh Trịnh Xuân N. làm việc tại vƣờn của gia đình (Xóm K. Q, xã C. Q, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An). Quá trình làm vƣờn, giữa ông Trịnh Quang V. và bà Hồ Thị T. (Nhà ở cạnh nhà ông V.) có phát sinh mâu thuẫn, ông V. có dùng tay tát vào mặt bà T, đƣợc chị Trịnh Thị L. – là con gái ông V. can ngăn nên bà T. đi về nhà. Sau đó, bà T. đã điện thoại cho con trai là Nguyễn Viết Th. cho biết việc bà bị ông V. tát vào mặt.
Nghe tin mẹ mình bị ông V. đánh, Nguyễn Viết Th. đi về nhà lấy một thanh kiếm dài 95cm tìm ông Vinh. Khi gặp ông V. tại vƣờn, Th. tiến đến hỏi: Sao ông lại đấm mẹ tôi? Ông V. hét lên: Mày làm cái gì đấy? Th. liền rút thanh kiếm mang theo chém một nhát vào ngƣời ông V. làm ông V. bị thƣơng ở mu bàn tay trái. Khi các con của ông V. can ngăn thì Th. vứt thanh kiếm ở gần nhà ông V. và đi về.
Sau khi bị chém, ông V. đƣợc đƣa đến cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An từ ngày 09/12/2016 đến ngày 14/12/2016. Tiếp đó, ông V. vào điều trị tại Bệnh viện huyện Quỳ Hợp từ ngày 15/12/2016 đến ngày 26/12/2016.
Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ông Trịnh Quang V. do Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp lập ngày 09/12/2016 xác định: 01 vết thƣơng rách da, bờ mép sắc gọn, kích thƣớc 6,5cm x 1cm ở mu bàn tay trái kéo dài đến phía trên ngón tay thứ 3 của bàn tay trái.
Bệnh án số 60431 của Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An xác định: Vết thƣơng mu bàn tay (T), đứt gân duỗi ngón II, III do bị chém giờ 07.
Bản Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 47/TTPY ngày 17/2/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An đối với ông Trịnh Quang V. đã kết luận: Tổn hại sức khoẻ do thƣơng tích gây nên tại thời điềm giám định là 12% (Mƣời hai phần trăm).
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xẩy ra, giữa ông Trịnh Quang V. và Nguyễn Viết Th. đã thoả thuận bồi thƣờng, nay ông V. không yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Viết Th.
Tại bản Cáo trạng số 32/VKS-HS ngày 05/6/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Viết Th. về tội "Cố ý gây thƣơng tích" theo quy định tại khoản 2 điều 104 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 điều 104; điểm b, p khoản 1 điều 46; khoản 2 điều 46; điều 60 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Viết Th. từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 4 năm đến 5 năm.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên toà: Nguyễn Viết Th. Xin lỗi ông Trịnh Quang V. Và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳ Hợp và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội:
Khoảng 8 giờ ngày 09/12/2016, biết đƣợc trƣớc đó mẹ mình là bà Hồ Thị T. bị ông Trịnh Quang V. đánh, Nguyễn Viết Th. đã dùng kiếm chém vào mu bàn tay trái của ông V. làm ông V. bị thƣơng phải điều trị tại các bệnh viện trong thời gian 17 ngày, tỷ lệ thƣơng tật là 12%.
Căn cứ các hồ sơ bệnh án điều trị của ông Trịnh Quang V. và Bản Kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 47/TTPY ngày 17/2/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An đối với ông Trịnh Quang V. có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Viết Th. đã phạm vào tội "Cố ý gây thƣơng tích", tội phạm quy định tại điều 104 Bộ luật Hình sự.
[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của Nguyễn Viết Th. dùng kiếm chém ông Trịnh Quang V. gây thƣơng tích 12% là "Dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 điều 104 Bộ luật Hình sự; tại thời điểm Th. phạm tội đối với ông V, ông V. đã hơn 73 tuổi là đã phạm tội "Đối với ngƣời già yếu" quy định tại điểm d khoản 1 điều 104 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét xử phạt Nguyễn Viết Th. mức án nghiêm theo quy định tại khoản 2 điều 104 Bộ luật Hình sự.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội, bị cáo đã đƣa ông V. đi điều trị và cùng gia đình bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị hại; quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà đã có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; ngƣời bị hại là ông V. xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha đẻ là ngƣời có công với Nƣớc. Do đó, bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm b, p khoản 1 điều 46; khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên cần áp dụng điều 60 Bộ luật Hình sự để xử cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, giữa bị cáo và ngƣời bị hại đã thoả thuận xong mức bồi thƣờng thiệt hại, nay tại phiên toà ngƣời bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 thanh kiếm bằng kim loại, 01 vỏ bao đựng kiếm bằng gỗ, 01 ống tuýp sắt bằng kim loại là những công cụ phạm tội cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết Th. phạm tội "Cố ý gây thƣơng tích".
Áp dụng khoản 2 điều 104; điểm b, p khoản 1 điều 46; khoản 2 điều 46; điều 60 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Nguyễn Viết Th. 24 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho chính quyền UBND xã C. Q, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 2 điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiểu huỷ: 01 thanh kiếm bằng kim loại; 01 vỏ bao đựng kiếm bằng gỗ; 01 ống tuýp sắt bằng kim loại.
(Chi tiết mô tả tại "Biên bản giao, nhận vật chứng" lập ngày 06/6/2017 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp).
3.
Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc Hội: Buộc Nguyễn Viết Th. phải chịu án phí Hình sự sở thẩm 200.000,đ.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và ngƣời bị hại. Bị cáo, ngƣời bị hại có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Công an huyện Quỳ Hợp; - Thi hành án hình sự; - Thi hành án dân sự; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu. | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lª ThÞ BÝch Lµi |