- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thị Lệ T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH Bản án số: 3/2018/HS-PT Ngày: 03-01-2018 |
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên
Các Thẩm phán:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
2. Bà Phạm Uyên Thy
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang– Cán bộ Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Ông Dương Ngọc Ân - Kiểm sát viên
Ngày 03/01/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 649/2017/TLPT-HS ngày 07
tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo Đào Thị Lệ T do có kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân Quận 3 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 126/2017/HS-ST
ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Bị cáo bị kháng nghị:
Đào!Thị!Lệ!T; sinh năm: 1968; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú:
490/23 Điện Biên P, Phường K, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 214
Bùi Đình T, Phường G, quận Bình T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:
Nội trợ; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Văn B (chết) và bà Lương Thị B (chết); hoàn
cảnh gia đình: có chồng và 01 con, sinh năm: 2005; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/01/1983 bị Công an quận Bình Thạnh bắt về hành vi
trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 29/7/1984 bị công an quận Gò Vấp bắt về
hành vi trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 03/12/1986 bị Công an Quận 1 bắt
về hành vi trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 31/8/1987, bị Công an Quận 6
bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân; Ngày 12/12/1987 bị Công an Quận
1 bắt về hành vi trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa; Ngày 23/10/1989 Tòa án
nhân dân thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa xử phạt 03 năm tù giam về tội
“Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án hình sự sơ thẩm số 97/HSST; Ngày
17/6/1994 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về
tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án hình sự sơ thẩm số 613/HSST. Bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Quận 3 từ ngày 23/3/2017 đến ngày 14/4/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo tại ngoại.
Ngoài ra còn có các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo,
không bị kháng nghị.
Ngoài ra những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc có
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2017, Đào Thị Lệ T cùng Đào Thị Mộng V,
Nguyễn Thị Ngọc B rủ nhau vào chợ Bàn Cờ tìm người sơ hở trộm cắp tài sản. Khi đến cửa hàng bán quần áo, giày dép của chị Nguyễn Thị Hồng L tại số 664/48 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 3, Quận 3. Cả ba quan sát thấy 01 túi xách không có người trông coi, T nói B ra ngoài kêu V vào lấy trộm. Nghe B kêu V đi vào cửa hàng thì T dùng tay chỉ cho V thấy vị trí túi xách rồi tiếp tục quay sang nói chuyện với chị Linh và cố ý đi vào khu vực phía trong cửa hàng tạo điều kiện cho V lấy trộm túi xách, lúc này B cũng đi ra phía trước của hàng đứng sát với một khách hàng đang thử giày để che cho V lấy túi xách. V lại gần túi xách, ngồi xuống thò tay vào bên trong lấy một cái bóp nhỏ và lấy hết tiền lẻ bỏ vào bịch nylon màu vàng V mang theo sẵn. Khi thấy V đi về, T và B biết V đã lấy được tài sản nên cả hai cùng đi về nhà B để gặp V. Trên đường về nhà B trước đó, V kiểm tra số tiền lẻ lấy được là 500.000 đồng và mở ví xem thấy có một xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng V rút ra 16 tờ bỏ túi quần cất giấu. Khi cả ba người gặp nhau tại nhà B thì T và V kiểm tra số tiền còn lại trong ví được 42.000.000 đồng, V chia cho T 12.500.000 đồng, B 12.500.000 đồng, V lấy ra 17.000.000 đồng. Chia xong tiền, T vứt bỏ tại chân trụ điện đặt trên lề đường trước số nhà 614-616 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 3, Quận 3. Tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt của người bị hại là 50.500.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Gồm 01 cái ví màu xám hiệu Lous Vuitton; 01 giấy
chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Hồng L, 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Nguyễn Minh T và 01 thẻ nhựa màu xanh của CoopMart đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an lập biên bản giao trả cho người bị hại Nguyễn Thị Hồng L.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2017/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2017 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đào Thị Lệ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm e Khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46
khoản 1 khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Đào Thị Lệ T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tù tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T về
cho Ủy ban nhân dân phường 12, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về mức hình phạt đối với bị cáo Đào Thị
Mộng V, Nguyễn Thị Ngọc B, án phí và thời hạn kháng cáo.
Ngày 11/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 có Quyết định kháng
nghị số 06/KN-HS kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số
126/2017/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với bị cáo Đào Thị Lệ T theo hướng
không cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, qua xét hỏi bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm
tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo. Sau khi xét
xử sơ thẩm bị cáo T không kháng cáo.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 có Quyết định kháng nghị số 06/KN-HS
ngày 11/10/2017 kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2017/HS-
ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí
Minh đã xét xử đối với bị cáo Đào Thị Lệ T theo hướng không cho bị cáo hưởng
án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt
nội dung, phân tích tính chất vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã đề
nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị xét xử đối với bị cáo Đào
Thị Lệ T theo hướng không cho bị cáo hưởng án treo.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của các bị cáo khác
trong cùng vụ án, lời khai người bị hại kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã
được Cơ quan điều tra T thập có trong hồ sơ vụ án, xét đã có đủ cơ sở pháp lý
kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2017, bị cáo T cùng bị cáo V và B rủ nhau
đi trộm cắp tài sản. Khi đến cửa hàng bán quần áo, giày dép của chị Linh tại số
664/48 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 3, Quận 3, cả ba quan sát thấy 01 túi xách
không có người trông coi, bị cáo T nói bị cáo B ra ngoài kêu bị cáo V vào lấy
trộm. Khi bị cáo V đi vào cửa hàng thì T dùng tay chỉ cho V thấy vị trí túi xách
rồi tiếp tục quay sang nói chuyện với chị Linh, còn B cũng ra phía trước cửa
hàng đứng sát với một khách hàng đang thử giày, cả hai cùng che chắn cho cho
V lấy túi xách. V tiếp cận và thò tay vào bên trong túi xách lấy một cái bóp nhỏ
và lấy hết tiền lẻ bỏ vào bịch. Trên đường về nhà B trước đó, V tự ý rút ra 16 tờ
mệnh giá 500.000 đồng bỏ túi riêng của mình. Số tiền còn lại V mang về chia
cho T và B, V lấy 17.000.000 đồng, T lấy 12.500.000 đồng, B lấy 12.500.000
đồng. Tổng số tiền các bị cáo chiếm đoạt là 50.500.000 đồng. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 3, bị cáo T cùng bị cáo V, B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Do đó, xét thấy án sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội.
Án sơ thẩm căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các
tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên đã áp dụng điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo T với mức hình phạt 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T không kháng cáo. Viện kiểm sát nhân
dân Quận 3 có Quyết định kháng nghị số 06/KN-HS ngày 11/10/2017 kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2017/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Đào Thị Lệ T theo hướng không cho bị cáo hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, với vai trò đồng phạm của mình bị cáo T đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi tạo điều kiện, che chắn, thông báo, giúp sức cho bị cáo V trộm cắp số tiền trị giá 50.500.000 đồng. Mặc khác, bản thân bị cáo T có nhân thân rất xấu, đã từng liên tục bị đưa ra xét xử về hành vi “trộm cắp tài sản” cụ thể vào các năm 1983, 1984, 1986, 1987, 1989, ở lần phạm tội này tuy bị cáo không Tộc trường hợp tái phạm nhưng đã thể hiện ý thức đạo đức kém, thái độ xem thường pháp luật, không ăn năn hối cãi của bị cáo, xét cấp sơ thẩm áp dụng điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, khoản 1 khoản 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo hưởng án treo là chưa nghiêm khắc, chưa đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời chưa đủ cơ sở căn cứ được hưởng án treo dựa vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,!do đó chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Đào Thị Lệ T theo hướng không cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, cũng có xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cãi. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, không phải là người trực tiếp lấy trộm tài sản, đã khắc phục hoàn toàn hậu quả, người bị hại có đơn bãi nại xin khoan hồng cho bị cáo. Hiện bị cáo T đang bị lao phổi nặng (có giấy xác nhận của bệnh viện) nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo 01 phần hình phạt. !
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH!
!
Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 355, điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, thành phố Hồ
Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Đào Thị Lệ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm e Khoản 2 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46,
Điều 52, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Đào Thị Lệ T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bắt bị cáo thi hành án nhưng có khấu trừ thời gian tạm giam trước đó từ ngày
23/3/2017 đến ngày 14/4/2017.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:!! ! !!!!!!! - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại Tp.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận 3; (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Chi cục THA Quận 3; (1) - TAND Quận 3; (2) - Công an Quận 3; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (4) | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! ! Huỳnh!Thị!Việt!Tiên! |