- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyện Đình T và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 299/2023/HS-PT Ngày 24 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Ngô Thanh Sỹ.
Ông Nguyễn Trung Hưng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh- Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2022/HS-PT ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Đình T.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2023/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đình T, sinh năm: 1992; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Số 43A, Tổ 37, khu phố 11, phường TP, TP.BH, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Họ tên cha: Nguyễn Đình T1, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1967; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1989 và có 01 con chung sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/4/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố BH ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành là 24 tháng (Quyết định số 43/QĐ-TA ngày 25/4/2016 của TAND TP.BH)
Bị cáo bị giam giữ từ ngày 08/12/2022.
(Bị cáo có mặt)
Trong vụ án còn có bị hại anh Nguyễn Đăng Khánh M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông anh Vũ Duy K không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Đình T nảy sinh ý định lên mạng tìm kiếm người cần bán xe, sau đó T liên hệ với chủ xe để xem rồi giả vờ chạy thử để chiếm đoạt. Để thực hiện ý định trên nên vào ngày 02/12/2022, T lên trang Web “Chợtốt.com” tìm xe để mua thì thấy tài khoản Zalo “Minh Nguyen” (tên thật là Nguyễn Đăng Khánh M sinh năm 1985, HKTT: Ấp QB, xã QT, huyện TB, tỉnh Đồng Nai) đăng bán 01 xe Suzuki Sport, màu sơn đỏ, biển số 60H6-22.666, lúc này T sử dụng số điện thoại Redmi xxxx.xxx.xxx đăng nhập tài khoản Zalo “Foreve” nhắn tin hỏi mua xe thì anh M đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T thuê xe ô tô biển số 60K-034.28 đi đến nhà anh M để mua xe. Trong lúc xem xe T nói với anh M cho T chạy thử thì anh M đồng ý. Sau khi lấy được xe T điều khiển xe về thành phố BH bán cho anh Vũ Duy K, sinh năm 1985, HKTT: 25/3, Tổ 10, khu phố 6, phường LB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai với giá 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Số tiền bán xe T dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 07/12/2022, T tiếp tục đến khu vực ấp BC, xã TH, huyện TB, tỉnh Đồng Nai để xem và mua xe thì bị một người bạn của anh M phát hiện nên giữ lại sau đó đưa về Công an xã QT làm việc và chuyển hồ sơ đến đội Điều tra Tổng hợp Công an huyện TB giải quyết theo thẩm quyền. T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
+ Tại kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện TB kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Sport, biển số 60H6-226.66, số máy F124-104518, số khung RU120U-A04518, màu sơn: Đỏ, xe đã qua sử dụng có giá là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Đình T 02 (hai) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/5/2023, bị cáo Nguyễn Đình T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Nguyễn Đình T tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện TB.
Bị cáo Nguyễn Đình T không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình Tiến làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa bị cáo dẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy.
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình T xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới so với phiên tòa sơ thẩm.
Hội đồng xét xử xét thấy, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử bị cáo với mức án 02 (hai) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyện Đình T và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2022.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
(Đã ký) Ngô Thanh Sỹ – Nguyễn Trung Hưng
Võ Văn Toàn
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom; - Công an huyện Trảng Bom; - Phòng PV 27 - Công an tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Toàn |