vanban.org

Bản án 299/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2021. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 299/2021/HS-ST
Ngày 28-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 325/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 324/2021/QĐXXST-HS ngày 15/10/2021 đối với bị cáo:

Bùi Văn P, sinh năm 1998 tại tỉnh H; thƣờng trú: Xóm S, xã Y, huyện L, tỉnh H; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Mƣờng, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Bùi Văn T, đã chết và bà Bùi Thị P, sinh năm 1978; có 01 em, sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2021 đến nay; có yêu cầu giải quyết vắng m t.

- Bị hại: Chị Lê Thị Nhật T, sinh ngày 10/9/2003; địa chỉ: 19/2 khu phố B, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có yêu cầu giải quyết vắng m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Trƣơng Văn L, sinh năm 1978; địa chỉ: 34A đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng m t.

+ Ông Nguyễn An T, sinh năm 1955; địa chỉ: H, C, P, tỉnh B. Vắng m t.

- Người làm chứng: Bà Trần Thị N. Vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/6/2021, Bùi Văn P lấy 01 chiếc chìa khóa xe nhãn hiệu Yamaha cất trong túi quần rồi đi bộ qua các dãy nhà trọ thuộc khu vực khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B để tìm tài sản chiếm đoạt. Đến 10 giờ 30 phút, khi đến trƣớc dãy trọ số 199/5 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, Bùi Văn P nhìn thấy 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Naval, kiểu dáng Wave, màu sơn xanh, biển số 77H8-0566 (số khung 6XU-00180, số máy FMH-000180) của chị Lê Thị Nhật T dựng trong hành lang dãy trọ, không có ngƣời trông coi nên lén lút tiếp cận xe rồi lấy chìa khóa mang theo v n mở khóa xe. Khi P vừa đề máy xe thì bà Trần Thị N là chủ nhà trọ phát hiện truy hô. P điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã tƣ 550 thuộc khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B bán cho 01 ngƣời phụ nữ mua ve chai dạo không rõ lai lịch với giá 500.000 đồng. Đến ngày 27/6/2021, Công an phƣờng Dĩ An tiếp nhận tin báo và mời P đến làm việc, tại đây P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 áo thun màu xám, trƣớc áo có in dòng chữ Cty Land, trƣớc ngực trái có logo Hồ Chí Minh Football Club, hai bên vai có sọc đen và hình đôi nam nữ ngồi dựa lƣng vào nhau.

Tại Biên bản và định giá số 107/KLĐG-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản thành phố Dĩ An ngày 30/6/2021 kết luận 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Naval, kiểu dáng Wave, màu sơn xanh, biển số 77H8-0566, số khung 6XU-00180, số máy FMH-000180 trị giá 3.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 339/CT – VKS ngày 07 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn P mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu xanh, trƣớc áo có in dòng chữ Cty Land, trƣớc ngực trái có logo Hồ Chí Minh Football Club, hai bên vai có sọc đen và hình đôi nam nữ ngồi dựa lƣng vào nhau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Nhật T yêu cầu P bồi thƣờng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng nền đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng số tiền trên cho bị hại.

Tại đơn xin giải quyết vắng m t, bị cáo Bùi Văn P xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo và đồng ý bồi thƣờng cho chị Lê Thị Nhật T giá trị xe mô tô bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.

Tại đơn xin xét xử vắng m t, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng giá trị xe mô tô bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo, bị hại có đơn xin vắng m t tại phiên tòa, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có lời khai đầy đủ rõ ràng, việc giải quyết vụ án, không ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng m t ngƣời tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào biên bản đầu thú và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/6/2021, tại dãy trọ số 199/5 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B, Bùi Văn P lén lút dùng chìa khóa v n mở khóa xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Naval, kiểu dáng Wave, màu sơn xanh, biển số 77H8-0566, số khung 6XU-00180, số máy FMH-000180 của chị Lê Thị Nhật T giá trị 3.000.000 đồng rồi chiếm đoạt. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 339/CT – VKS – DA ngày 07 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án tiền sự, là ngƣời không có nghề nghiệp ổn định, sử dụng ma túy.

Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Naval, kiểu dáng Wave, màu sơn xanh, biển số 77H8-0566, số khung 6XU-00180, số máy FMH-000180 trị giá là 3.000.000 đồng, không thu hồi đƣợc. Bị hại chị Lê Thị Nhật T yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng giá trị xe là 3.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thƣờng số tiền trên cho chị Thanh. Thiệt hại của bị hại là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Vì vậy, yêu cầu của bị hại là có căn cứ chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu xanh, trƣớc áo có in dòng chữ Cty Land, trƣớc ngực trái có logo Hồ Chí Minh Football Club, hai bên vai có sọc đen và hình đôi nam nữ ngồi dựa lƣng vào nhau là tài sản của bị cáo, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm đủ để răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2021.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo Bùi Văn P có trách nhiệm bồi thƣờng cho chị Lê Thị Nhật T số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun màu xanh, trƣớc áo có in dòng chữ Cty Land, trƣớc ngực trái có logo Hồ Chí Minh Football Club, hai bên vai có sọc đen và hình đôi nam nữ ngồi dựa lƣng vào nhau.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2021).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Bùi Văn P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ