- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 20/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện HN về phần hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| T N N N N N T N N T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 299/2019/HS-PT Ngày: 14-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚ
N
N
T N M
T
N N N N T N
N THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Thông
Ông Lê Hồng Nước
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp x t x công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 266/2019/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số: 20/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện HN.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Văn Th (tên gọi khác: Chó con), sinh năm 1995, tại tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Khóm Th, thị trấn TT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Hồ Thị Ng; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).
N
N
N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 13/02/2019, Nguyễn Văn Th, Trần Văn Ng, Mai Thị Tuyết N (vợ Ng) cùng một số người khác không biết tên cùng nhau chơi l c bầu cua ăn thua bằng tiền trước nhà bà Nguyễn Thị Th tại ấp Th, xã TT (nay là Khóm Th, thị trấn TT). Quá trình đánh bạc giữa Th và Ng xảy ra mâu thuẫn nên Ng đã dùng ghế nhựa màu xanh đánh Th, Th đưa tay lên đỡ và định đánh lại thì bị N vợ Ng đẩy Th ngã ng a ra, Th nhặt lấy 02 viên gạch ống cầm trên hai tay rồi dùng tay phải đánh vào vùng mặt của N một cái trúng vào mí m t trái của chị N, sau đó Th còn n m viên gạch về phía anh Ng nhưng không trúng Ng mà trúng vào tay trái anh Võ Văn M đứng gần đó, làm cho anh M bị thương tích nhẹ, thấy Th còn cầm một viên gạch nên anh M khuyên can thì Th đã n m bỏ viên gạch xuống đường và Th chạy vào trong nhà bà Th, anh Ng cầm gạch ống rượt đuổi và ném theo Th nhưng không trúng Th mà làm bể thùng gạo nhà bà Th. Sau đó, anh Ng phát hiện chị N bị thương tích nên chở chị N đến Trung tâm y tế huyện HN cấp cứu.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 86TgT ngày 21/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận thương tật của Mai Thị Tuyết N như sau: Sẹo vết thương phần mềm hốc m t trái, ảnh hưởng thẩm mỹ tỷ lệ tổn thương tại thời điểm giám định là 12%. Sẹo vết thương phần mềm trên do vật tày tác động gây nên thương tích; Chiều hướng trực tiếp từ ngoài vào trong.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện HN đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
X phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b t bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019, bị cáo Nguyễn Văn Th có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát cho rằng khi lượng hình cấp sơ thẩm đã xem x t đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo, trên cơ sở phân tích tính chất mức độ, thủ đoạn phạm tội cũng như hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội, án sơ thẩm x phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng không đủ điều kiện xem x t. Vì vậy, đề nghị Hội đồng x t x căn cứ Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt tù đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn Th không có phát biểu tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo yêu cầu HĐXX phúc thẩm xem x t cho bị cáo được hưởng án treo.
N N N
T
N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Văn Th thừa nhận thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm (gạch ống) gây thương tích cho bị hại Mai Thị Tuyết N với tỷ lệ là 12%. Do đó, án sơ thẩm kết tội bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo cho rằng mức án 01 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm x phạt là nặng đối với bị cáo nên kháng cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng x t x x t thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội và gây mất trật tự trị an ở địa phương. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem x t đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà bị cáo đã được hưởng và phải chịu, mức án sơ thẩm tuyên là có căn cứ, đúng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới để Hội đồng x t x xem xét. Hơn nữa, nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của bị cáo có nguồn gốc từ đánh bạc mà ra. Vì vậy, cần thiết áp dụng hình phạt tù như án sơ thẩm tuyên mới đủ sức cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[2] X t lời đề nghị của Viện kiểm sát cho rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức án sơ thẩm tuyên x là có căn cứ, đúng với mức độ cũng như tính chất phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo xin được hưởng án treo nhưng không đưa ra được điều kiện để xem x t. Từ cơ sở đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng x t x giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt tù, lời đề nghị này của Viện kiểm sát là có căn cứ, cần chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Q YẾT N :
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 20/2019/HS-ST ngày 05/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện HN về phần hình phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Văn Th.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
X phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TTM
N
T
T M
| Nơi nhận: TM - Vụ Giám đốc kiểm tra 1 – TANDTC; T M - VKSND Tỉnh; - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - TAND – VKSND H. HN; - Chi cục THADS H. HN; - Cơ quan CSĐT CA H. HN; - Cơ quan THAHS CA H. HN; - Trại Tạm giam; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (Trúc). | N T T M t Thẩm phán - hủ tọa phiên tòa N – T N T (Đã ký) Nguyễn Thị Mai Trương hước T |