vanban.org

Bản án 299/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20-7-2017 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Đ - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 299/2017/HSST
Ngày: 15-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Bảo.

2. Bà Nguyễn Thị Kim Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Việt Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Đ tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 15-9-2017 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 264/2017/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2017 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 264/2017/QĐXX-HSST ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1993.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Chỗ ở: Thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trình độ văn hóa: 9/12.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Họ và tên bố: Nguyễn Xuân R, sinh năm 1959.

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1962.

Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm.

Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 18-12-2012 Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”;

- Ngày 26-4-2013 Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai bản án là 26 tháng 26 ngày.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18-5-2017, chuyển tạm giam từ ngày 24-5-2017 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.

Bị cáo Nguyễn Xuân Đ có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18-5-2017 Nguyễn Xuân Đ đang ở khu vực trường Trung cấp xây dựng, xã N, thành phố N thì Vũ Ngọc C đến nhờ mua ma túy và hứa trả tiền công. Đ đồng ý nhận của C 100.000 VNĐ đi mua 01 gói ma túy heroin về đưa cho C và nhận của C 70.000 VNĐ tiền công. Khi Đ vừa giao ma túy và nhận tiền công của C đưa thì Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ, niêm phong theo quy Đ của pháp luật 01 gói ma túy của C; tạm giữ của Đ 70.000 VNĐ đồng thời đưa Đ, C và người làm chứng về trụ sở Công an lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Bản kết luận giám định số 411/GĐKTHS ngày 22-5-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N trưng cầu giám định là chất ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng 0,016 gam.

Bản cáo trạng số 276/QĐ-KSĐT ngày 25-7-2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bị cáo Nguyễn Xuân Đ khai nhận biết rõ hành vi mua bán heroin là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì mục đích kiếm lời nên đã đồng ý nhận tiền công để đi mua ma túy bán cho Vũ Ngọc C và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.

Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Xuân Đ đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ từ 33 tháng tù đến 39 tháng tù giam. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ năm triệu đồng đến bẩy triệu đồng.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của Vũ Ngọc C; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 70.000 VNĐ do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Xuân Đ.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử khoan hồng để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Xuân Đ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 411/GĐKTHS ngày 22-5-2017của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18-5-2017, bị cáo Nguyễn Xuân Đ đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy, loại ma túy heroin, khối lượng 0,016 gam cho Vũ Ngọc C với mục đích để kiếm lời thì bị bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, làm lan tràn tệ nạn ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích kiếm lời bất chính. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Xuân Đ: Bị cáo là người có nhân thân xấu nhưng tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng ...”. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Xuân Đ mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Vũ Ngọc C có hành vi mua ma túy để sử dụng, xét hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an thành phố NĐ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính Vũ Ngọc C về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Cơ quan điều tra Công an thành phố N đang xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy thu giữ của Vũ Ngọc C là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 70.000 VNĐ do phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Xuân Đ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân Đ phải nộp án phí theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ 33 (Ba mươi ba) tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18-5-2017.

- Áp dụng khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999: Phạt tiền 5.000.000 VNĐ (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Nguyễn Xuân Đ.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Vũ Ngọc C; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 70.000 VNĐ của bị cáo Nguyễn Xuân Đ.

Số vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20-7-2017 giữa Công an thành phố N với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân Đ phải nộp 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo:

- Áp dụng Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Nguyễn Xuân Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ