vanban.org

Bản án 298/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 28/06/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VC2 ngày 29-02-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn G. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Đình L1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn G - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (điều 349 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VC2 ngày 29-02-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 349 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2024/HS-PT
Ngày: 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Long

Ông Phạm Văn Hợp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 28-6-2024, tại trụ sở. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2024/TLPT-HS ngày 13-3-2024 đối với Lê Văn G và bị cáo khác. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Các bị cáo kháng cáo:

1. Lê Văn G, sinh ngày 03-02-1994 tại tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký NKTT: Thôn X, xã X, huyện L, tỉnh Quảng Bình; chỗ ở hiện nay: Số A T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên bán vé máy bay; con ông Lê Văn T và bà Võ Thị L; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 01-6-2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Đình L1, sinh ngày 10-5-1975 tại Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký NKTT: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay: Số D Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; con ông Trần K (đã chết) và bà Lê Nguyễn Thị X; vợ là Nguyễn Thị Ngọc G1 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01-7-2023; đến ngày 08-11-2023, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo:

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn G và Trần Đình L1:

Luật sư Nguyễn Văn T1 - Công ty L4 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc G1, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Số nhà D Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt tại phiên tòa.

2. Công ty V3; địa chỉ: Số A T, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn C - Chức vụ: Giám đốc, có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Bà Nguyễn Thị Diễm T2, sinh năm 1980; địa chỉ cư trú: Số A Lô B - Chung cư P, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.

(Vụ án có 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn G là nhân viên bán vé máy bay của Công ty Cổ phần V3 tại số A L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Công ty V3). Để thực hiện việc bán vé, G sử dụng tài khoản V mang tên “Dap Air” (đăng ký bằng số điện thoại 0858.585.873 của G).

Khoảng đầu tháng 5-2023, đối tượng có tài khoản V tên “Chien Nguyen” (đăng ký bằng số điện thoại 0794.584.064, chưa xác định được lai lịch) kết bạn V và nhắn tin hỏi đặt vé máy bay. Qua trao đổi, “Chien Nguyen” đặt vấn đề với G về việc “Chien Nguyen” sẽ đặt mua vé máy bay của G trong các chặng bay mà “Chien Nguyen” tổ chức cho khách là người Việt Nam trốn đi Mỹ nhằm mục đích ở lại lao động trái phép, với điều kiện là G sẽ phụ giúp “Chien Nguyen” trong việc hướng dẫn cho các nhóm khách trong quá trình trốn đi Mỹ. Để hưởng lợi từ tiền bán vé máy bay, G đã nhận lời của “Chien Nguyen” tham gia tổ chức cho khách là người Việt Nam trốn đi Mỹ để lao động trái phép.

Cũng tương tự như Lê Văn G, khoảng tháng 5-2023, thông qua các mối quan hệ xã hội, Trần Đình L1 có quen biết với “Chien Nguyen”, L1 không biết lai lịch cụ thể của “Chien Nguyen”, chỉ nghe gọi tên là C1 và chỉ biết đối tượng này sống ở Mỹ. Sau đó, “Chien Nguyen” kết bạn với tài khoản Viber của L1 là “Huy Antonio Nguyen” (đăng ký bằng số điện thoại 0901.774.454 của L1). Qua trao đổi trên V, “Chien Nguyen” đã đặt vấn đề với L1 về việc tham gia tổ chức cho 10 người Việt Nam trốn đi Mỹ nhằm mục đích ở lại lao động trái phép. “Chien Nguyen” cần L1 đứng ra đại diện ở Việt Nam để thu tiền, nhận tiền từ khách có nhu cầu trốn đi Mỹ, do nhóm khách này yêu cầu phải có người ở Việt Nam đứng ra nhận tiền chứ không chuyển khoản vì sợ bị lừa. “Chien Nguyen” hứa hẹn sẽ trả công cho L1 1.000 USD/trường hợp nếu họ trốn đi Mỹ trót lọt, L1 đồng ý. Quá trinh tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, “Chien Nguyen” chỉ đạo mọi hoạt động, Lê Văn G và Trần Đình L1 được “Chien Nguyen” yêu cầu lập các nhóm Viber để quản lý, hướng dẫn cụ thể cho nhóm người Việt Nam trốn đi nước ngoài các thủ đoạn đối phó với cơ quan chức năng, cụ thể:

Lê Văn G có nhiệm vụ đặt vé máy bay cho khách theo lộ trình đường bay mà “Chien Nguyen” chỉ định, hướng dẫn cho khách các thủ đoạn đối phó với cơ quan chức năng như: cách thức ăn mặc, chuẩn bị hành lý, cách thức khai báo... nhằm đưa khách từ Việt Nam đến được M trót lọt.

Trần Đình L1 có nhiệm vụ thu tiền vé trực tiếp từ các khách người Việt Nam trốn đi Mỹ để đưa cho G và phối hợp cùng với G trong việc quản lý, hướng dẫn nhóm người Việt Nam trốn đi Mỹ trong nhóm viber.

Các khâu còn lại như: Nhận khách để tổ chức trốn đi Mỹ, thu tiền từ khách sau khi trốn vào Mỹ, chuẩn bị thẻ cư trú ở Nhật Bản giả để đối phó với lực lượng chức năng khi bị kiểm tra ở nước ngoài, tổ chức cho khách từ Mexico nhập cảnh trái phép vào Mỹ và bố trí việc làm cho khách tại Mỹ thì sẽ do phía “Chien Nguyen” phụ trách thực hiện.

Đối với thẻ cư trú Nhật Bản giả, “Chien Nguyen” chỉ đạo tài khoản V “ThienVu” (đăng ký bằng số điện thoại 0949.996.707) và “Truong Đat” (chưa xác định được lai lịch) giao cho nhóm người trốn đi Mỹ tại Singapore, đồng thời yêu cầu nhóm người này chỉ được sử dụng để trình cho cơ quan chức năng kiểm tra khi bay từ Brazil qua Mexico. Lý do nhóm người trốn đi Mỹ cần có thẻ giả này vì M có chính sách miễn thị thực cho Nhật Bản. Ngày 29-5 và ngày 30-5-2023, “Chien Nguyen” cùng Lê Văn G và Trần Đình L1 đã hai lần tổ chức cho nhiều người trốn đi Mỹ, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất:

“C2” và Lê Văn G đã tổ chức cho 08 người Việt Nam trốn sang Mỹ, gồm: Hồ Q, Lê Thị V1, Hồ Thị L2, Lê Quý D, Hồ Thị P, Võ Như T3, Võ Duy Q, Lê Thanh H. Ngày 24-5-2023, “Chien Nguyen” gửi cho Lê Văn G tài khoản Viber của 03 người khách Việt Nam có nhu cầu trốn đi Mỹ gồm Võ Như T3, Võ Duy Q và Lê Thanh H và yêu cầu G tạo nhóm V có tên “29-5 VIET NAM” gồm có: Giáp, “Chien Nguyen”, Võ Như T3, Võ Duy Q và Lê Thanh H. Sau đó, “Chien Nguyen” đã thêm Viber của 05 người khác là Hồ Q1, Lê Thị V1, Hồ Thị L2, Lê Quý D và Hồ Thị P vào nhóm V “29-5 VIET NAM”. Ngoài ra, “Chien Nguyen” còn thêm vào nhóm V “29-5 VIET NAM” các tài khoản Viber khác gồm: “CƠN LỐC BIÊN GIỚI” (đây là tài khoản khác của Chien N), “ThienVu”, “Li Chang” (đăng ký bằng số điện thoại 0772814282) và “Trương Đat” cùng tham gia tổ chức cho 08 người trên trốn đi Mỹ để ở lại lao động trái phép.

Theo sự chỉ đạo của “Chien Nguyen”, Lê Văn G đã yêu cầu 08 người khách chụp hình ảnh thông tin cá nhân trên hộ chiếu gửi vào nhóm để G đặt vé. Về lộ trình, G đặt vé máy bay cho khách từ Việt Nam đi Singapore (vé một chiều), từ Singapore đi D - đi Brazil - đi Panama (vé khứ hồi), đặt vé khứ hồi là để cho phù hợp với lý do đi du lịch tránh bị cơ quan chức năng phát hiện. Sau khi khách đến Brazil thì khách bỏ chặng bay đến Panama và đặt vé máy bay từ Brazil đi Mexico (vé một chiều). Sau khi đến được M thì “Chien Nguyen” sẽ tổ chức cho khách nhập cảnh trái phép vào Mỹ bằng đường bộ và sắp xếp việc làm cho khách tại Mỹ. “Chien Nguyen” chỉ đạo cho Lê Văn G đặt vé máy bay cho 08 người này trốn đi Mỹ để ở lại lao động trái phép, cụ thể như sau:

Đối với 03 người là Võ Như T3, Võ Duy Q và Lê Thanh H: Tháng 3-2023, vì có nhu cầu đi Mỹ để lao động, Võ Như T3 đã liên lạc với bạn tên là Trần H1 (chưa rõ lai lịch) để nhờ hướng dẫn. Trần H1 đã giới thiệu cho T3 nhóm V “29-5 VIET NAM” để được tổ chức trốn đi Mỹ, ngoài ra Võ Duy Q (là em ruột của T3) cũng xin đi cùng, T3 đồng ý. Do cũng có nhu cầu trốn đi Mỹ lao động, Lê Thanh H đã lên mạng tìm kiếm và được một đối tượng (chưa rõ lai lịch) gọi điện tư vẫn đưa đi Mỹ để làm việc với chi phí 40.000 - 60.000 USD, H đồng ý và được tài khoản V “Lichang” kết bạn để hướng dẫn lịch trình. Đến ngày 24-5-2023, Võ Như T3, Võ Duy Q và Lê Thanh H được Lê Văn G cho vào nhóm V “29-5 VIET NAM” để tổ chức trốn đi Mỹ. Sau khi xem giá vé máy bay, Lê Văn G đã yêu cầu khách chuyển tiền vé máy bay vào tài khoản số 0511000436474 mở tại Ngân hàng TMCP N4 do Giáp quản lý, sử dụng, cụ thể: Vé máy bay từ Đà Nẵng đi Singapore ngày 29-5-2023 (vé một chiều), G thu 3.980.000 đồng/người; vé máy bay từ Singapore đi D ngày 30-5-2023, từ Dubai đi Brazil ngày 31-5-2023, từ B đi Panama ngày 01-6-2023 và vé khứ hồi chiều P1 đi Singapore, G thu 85.431.000 đồng/người, 03 người nêu trên đã trực tiếp chuyển khoản tiền vé máy bay cho Lê Văn G, tổng cộng là 268.233.000 đồng. Sau khi nhận đủ tiền vé và giữ vé xong, Lê Văn G dùng tư cách là nhân viên Công ty V3 chuyển thông tin đặt chỗ cho Công ty Cổ phần X2 (sau đây viết tắt là Công ty X2) thông qua Nguyễn Thị Diễm T2 là nhân viên bán vé Công ty X2 để xuất vé. Tuy nhiên, ngày 29-5-2023, khi 03 người này đang làm thủ tục lên máy bay tại Sân bay Quốc tế Đ, thì bị phát hiện, nên chưa đi được.

Đối với 05 người là Hồ Q1, Lê Thị V1, Hồ Thị L2, Lê Quý D và Hồ Thị P: Tương tự như trên, Lê Văn G yêu cầu khách chuyển tiền vé máy bay vào tài khoản số 0511000436474 của G, cụ thể: Vé máy bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore ngày 29-5-2023 (một chiều), G thu 2.950.000 đồng/người; vé máy bay từ Singapore đi D ngày 30-5-2023, từ Dubai đi Brazil ngày 31-5-2023, từ B đi Panama ngày 01-6-2023 và vé khứ hồi chiều P1 đi Singapore Giáp thu 85.431.000 đồng/người, 05 người trên đã chuyển khoản tiền vé máy bay cho Lê Văn G tổng cộng 441.905.000 đồng. Đối với các vé máy bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore đi D đi Brazil đi Panama, Lê Văn G dùng tư cách là nhân viên Công ty V3 chuyển thông tin đặt chỗ cho Công ty X2 thông qua Nguyễn Thị Diễm T2 để xuất vé nhằm hưởng lợi cá nhân số tiền hoàn vé sau này. Sau khi 05 người khách này đến Brazil, thực hiện chỉ đạo của “Chien Nguyen”, ngày 01-6-2023, Lê Văn G tìm đặt vé máy bay cho họ từ B đi Mexico theo đúng lộ trình, G đã thu tiền vé 30.528.000 đồng/người, 05 người này đã chuyển khoản tiền vé vào tài khoản số 0511000436474 cho G tổng cộng 152.640.000 đồng, nhưng G chưa kịp đặt vé thì bị bắt giữ.

Tiền thu lợi bất chính: Chuyến tổ chức cho 08 người khách Việt Nam trốn đi Mỹ, Lê Văn G đã thu tiền vé máy bay từ khách tổng cộng là (268.233.000 đồng + 441.905.000 đồng) + 152.640.000 đồng = 862.778.000 đồng.

Ngày 26-5-2023, Lê Văn G đã nhờ Phạm Thanh Lâm S (là bà con họ hàng xa của G) sử dụng tài khoản số 28262699999 Ngân hàng TMCP Q3 02 lần chuyển khoản vào tài khoản số 115000109481 của Công ty V3 với tổng số tiền là 697.496.000 đồng để thanh toán tiền vé máy bay cho Công ty X2 đối với vé máy bay các chặng G dùng tư cách nhân viên của Công ty V3 để đặt vé. S không biết việc G chuyển tiền để làm gì, G chỉ yêu cầu S chuyển giúp và sau đó trả tiền lại cho S. Lý do G nhờ S chuyển khoản giúp số tiền trên là vì tài khoản Ngân hàng của G đang bị lỗi, không thể chuyển khoản được.

Đối với vé máy bay của 05 người là Hồ Q1, Lê Thị V2, Hồ Thị L2, Lê Quý D và Hồ Thị P: Khi những người này đã đến được B, G biết họ sẽ tiếp tục bay từ Brazil đi Mexico để nhập cảnh trái phép vào Mỹ và sẽ bỏ vé máy bay từ B đi Panama và toàn bộ vé chiều về Panama - đi Brazil - đi D - đi Singapore nên G vẫn liên hệ với chị Nguyễn Thị Diễm T2 để xuất vé nhằm tránh bị Cơ quan chức năng nghi ngờ, nhưng sau đó G liên hệ lại với chị T2 yêu cầu làm thủ tục hoàn vé nhằm hưởng lợi số tiền này. G đã nhận lại số tiền hoàn vé 05 người là 202.050.000 đồng. Đồng thời, G còn hưởng lợi từ tiền chênh lệch bán vé cho 08 người khách với số tiền là (268.233.000 đồng + 441.905.000 đồng) - 697.496.000 đồng = 12.642.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Lê Văn G thu lợi bất chính trong chuyến này là 214.692.000 đồng. Ngoài ra, Lê Văn G hiện còn giữ 152.640.000 đồng của 05 người kháchlà Hồ Q, Lê Thị V2, Hồ Thị L2, Lê Quý D và Hồ Thị P đặt mua vé máy bay từ Brazil đi Mexico, vì G chưa kịp đặt vé thì đã bị bắt giữ.

Lần thứ hai:

Ngày 30-5-2023, “Chien Nguyen” cùng Lê Văn G và Trần Đình L1 đã tổ chức cho 10 người Việt Nam trốn đi Mỹ, gồm: Nguyễn Tuân R, Trương Thị Diệu T4, Nguyễn Tuân Bảo N1, Nguyễn Ngọc Vân A, Ngô Thị Thúy H2, Phan Nhật Hương G2, Văn Thị Ánh X1, Lê Thị Thanh N2, Lê Văn H3 và Huỳnh Q2. Sau khi thuyết phục được Trần Đình L1 cùng tham gia tổ chức cho nhóm khách Việt Nam trốn đi Mỹ để ở lại lao động trái phép, “Chien Nguyen” đã cung cấp thông tin của 10 người trong nhóm này cho L1 để L1 liên hệ hướng dẫn, sắp xếp vé máy bay cho họ. Đồng thời, “Chien Nguyen” cũng giới thiệu Lê Văn G cho L1 để L1 liên hệ đặt vé. Ngày 17-5-2023, L1 sử dụng tài khoản Viber “Huy Antonio Nguyen” liên hệ với Lê Văn G qua tài khoản Viber “Dap Air” để nhờ G đặt vé máy bay cho 10 người khách trốn đi Mỹ để ở lại lao động trái phép. G biết rõ đây là những người khách trốn đi Mỹ để ở lại lao động trái phép, vì “Chien Nguyen” là người giới thiệu G với L1, mà trước đó “Chien Nguyen” đã đặt vấn đề với G và được G đồng ý.

Ngoài ra, L1 cũng nhờ G đặt vé máy bay cho Lenguyen A1 (sinh ngày: 20-5-1978, Quốc tịch: Mỹ, số hộ chiếu: 671667331, tài khoản Viber: Alan lenguyen - đăng ký bằng số điện thoại +19032385657) đi cùng nhóm này. Lenguyen A1 là bạn xã hội của L1, tại thời điểm này L đang ở Việt Nam và có nhu cầu muốn về lại Mỹ, nên nhờ L1 đặt vé máy bay giúp. L1 nhận thấy Lenguyen A1 có Quốc tịch Mỹ, biết tiếng Anh, nếu A1 đi cùng thì sẽ giúp đỡ được rất nhiều trong việc giao tiếp khi phát sinh vấn đề trong quá trình đi. L1 đã ngỏ lời với Lenguyen A1 và được A1 đồng ý, nhưng L1 không cho A1 biết đoàn 10 người này trốn đi Mỹ mà chỉ nói là họ đi du lịch sang Panama và nhờ A1 hỗ trợ. Cũng trong ngày 17-5-2023, theo sự chỉ đạo của “Chien Nguyen”, L1 sử dụng tài khoản Viber “Huy Antonio Nguyen” tạo nhóm V gồm có: L1, “Chien Nguyen” (Viber: “Chien Nguyen”, “CƠN LỐC BIÊN GIỚI”), Lê Văn G (V “Dap Air”), Lenguyen A1 (V “Alan lenguyen”) và 10 người khách nêu trên, đặt tên nhóm là “2-6 MEXICO đáp 16:55” để trao đổi, hướng dẫn cho khách. Lực gửi hình ảnh hộ chiếu của Lenguyen A1 và 10 người khách vào nhóm để G lấy thông tin đặt vé máy bay, sau đó L1 xóa hình ảnh hộ chiếu của A1 khỏi nhóm để tránh ảnh hưởng đến Alan nếu xảy ra vấn đề gì bất trắc.

Về lộ trình, thời gian tổ chức cho 10 người trốn đi Mỹ: Lực nói Lê Văn G đặt vé máy bay cho 10 người khách này theo lộ trình từ Việt Nam đi Singapore (vé một chiều), sau đó từ Singapore đi D đi Brazil đi Panama (vé khứ hồi), đặt vé khứ hồi là để cho phù hợp với lý do đi du lịch tránh bị cơ quan chức năng phát hiện. Sau khi khách đến Brazil, thì bỏ chặng bay đến Panama và đặt vé máy bay từ Brazil đi Mexico (vé một chiều). Sau khi đến được M thì “Chien Nguyen” sẽ tổ chức cho họ nhập cảnh trái phép vào Mỹ bằng đường bộ và sắp xếp việc làm tại Mỹ. Theo yêu cầu của L1, G đã đặt vé máy bay cho 10 người này cụ thể như sau:

Vé máy bay cho 10 người khách từ thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore ngày 30-5-2023; vé máy bay cho 10 người khách từ Singapore đi Dubai ngày 30-5-2023, từ Dubai đi Brazil ngày 31-5-2023, từ B đi Panama ngày 01-6-2023 và vé khứ hồi chiều P1 đi Singapore.

Ngoài ra, Trần Đình L1 yêu cầu Lê Văn G đặt vé máy bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore ngày 30-5-2023 cho Lenguyen A1 đi cùng đoàn 10 người. L1 biết trước việc 10 người khách này sau khi đến Brazil thì sẽ không đi đến Panama mà sẽ bay từ Brazil đi Mexico để nhập cảnh trái phép vào Mỹ, nên chỉ nhờ L3 Alan hỗ trợ, hướng dẫn đoàn đến Brazil, sau khi đến Brazil thì A1 tách đoàn để tự đi về Mỹ. Do đó, sau khi đến Singapore, L1 yêu cầu G chỉ đặt vé máy bay cho L5 02 chặng từ Singapore đi Dubai ngày 30-5-2023, từ D1 đi Brazil ngày 31-5-2023 và vé máy bay của Lenguyen A1 phải đặt mã về riêng, không chung mã vé với 10 người này để không phải ảnh hưởng đến Alan nếu có gặp trục trặc trong quá trình đi. Sau khi 10 người này đến Brazil, L1 đã yêu cầu Lê Văn G đặt vé máy bay cho họ từ Brazil đi Mexico vào ngày 02-6-2023 theo đúng lộ trình, nhưng ngày 01-6-2023, Lê Văn G bị bắt giữ nên chưa đặt vé được. Sau khi L1 biết G bị bắt đã nói cho “Chien Nguyen” biết để “Chien Nguyen” tự sắp xếp vé máy bay cho 10 người này đi Mexico để nhập cảnh trái phép vào Mỹ. Còn mọi việc sau đó thì Trần Đình L1 không rõ, vì “Chien Nguyen” đã cắt liên lạc.

Về quy trình đặt vé máy bay lần này cũng tương tự như trong lần tổ chức cho N3 thứ nhất trốn đi Mỹ, cụ thể: Đối với vé máy bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore - đi D - đi Brazil - đi Panama của 10 người và vé máy bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore - đi D - đi Brazil của Lenguyen A1, Lê Văn G dùng tư cách là nhân viên Công ty V3 chuyển thông tin đặt chỗ cho Công ty X2 thông qua Nguyễn Thị Diễm T2 để xuất vé. Đối với vé máy bay chiều về từ Panama đi Brazil - đi D - đi Singapore của 10 người này, G biết khách sẽ đi Mexico để trốn đi Mỹ và sẽ bỏ vé chiều về. G đã thông qua Nguyễn Thị Diễm T2 để xuất vé nhằm hưởng lợi số tiền hoàn vé, nhưng G chưa nhận được thì đã bị bắt giữ.

Về tiền vé máy bay: Sau khi Lê Văn G xem và báo giá vé, thì Trần Đình L1 đã thông báo cho 10 người trên và Lenguyen Alan biết và yêu cầu họ thanh toán trước tiền vé. L1 đã trực tiếp nhận tiền vé máy bay của 10 người (01 người trong nhóm đã đại điện đến giao tiền mặt cho L1 nhưng không rõ là ai) với tổng số tiền là 19.390.000 đồng và 53.401 USD; tiền này gồm: 35.461 USD quy đổi từ 845.738.000 đồng tiền về máy bay Singapore đi Panama (vé khứ hồi) và 17.940 USD tiền vé máy bay B đi Mexico. Lenguyen Alan cũng đã đưa trực tiếp tiền về cho L1 với là 56.787.000 đồng. Sau đó, L1 đã thanh toán tiền vé máy bay lại cho G, cụ thể như sau:

Đối với vé máy bay cho 10 người khách (9 người lớn và 1 trẻ em) từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore ngày 30-5-2023 (giá vé 1.980.000 đồng/người lớn, 1.570.000 đồng/trẻ em); vé máy bay khứ hồi từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore ngày 30-5-2023 (giá vé 1.980.000 đồng), vé máy bay từ Singapore đi Dubai ngày 30-5-2023 và từ D1 đi Brazil ngày 31-5-2023 (tổng giá vé 54.807.000 đồng) cho Lenguyen A1:

L1 đã sử dụng tài khoản số 29840317 mang tên “Nguyen Gia Bao” mở tại Ngân hàng A2 chuyển khoản số tiền vé 177.000 đồng vào tài khoản số 115000109481 mở tại Ngân hàng V4 của Công ty V3 để thanh toán tiền vé máy bay cho Lê Văn G.

Đối với vé máy bay cho 10 người khách (9 người lớn và 1 trẻ em) từ Singapore đi Dubai ngày 30-5-2023, từ Dubai đi Brazil ngày 31-5-2023, từ B đi Panama ngày 01-6-2023 và vé khứ hồi chiều P1 đi Singapore (tổng 85.430.000 đồng/người lớn, 76.868.000 đồng/trẻ em): Ngày 26-5-2023, L1 đã đến Công ty V3 và thanh toán trực tiếp số tiền vé này 35.461 USD cho G.

Đối với vé máy bay cho 10 người (9 người lớn và 1 trẻ em) từ Brazil đi Mexico vào ngày 02-6-2023: Ngày 01-6-2023, G yêu cầu Nguyễn Văn H4 (là nhân viên thu tiền của Công ty V3) đến nhà L1 tại số D Q, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy tiền vé máy bay. L1 đã đưa cho H4 17.940 USD, H4 mang số tiền này về Công ty và đưa lại cho G. Số tiền vé máy bay này thì G đã nhận tiền và nộp vào Công ty V3 nhưng chưa xuất vé được vì bị bắt giữ.

Tiền thu lợi bất chính:

- Đối với Lê Văn G:

Số tiền về máy bay từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Singapore - đi D - đi Brazil - đi Panama (và vé khứ hồi) của 10 người, G nhận từ L1 và chuyển hết cho Công ty V3 để thanh toán cho Công ty X2. Số tiền về máy bay từ Brazil đi Mexico của 10 người Giáp đã nhận từ L1 là 17.940 USD và chuyển hết vào Công ty V3 để đặt vé nhưng chưa kịp xuất vé thì bị bắt giữ. Đại diện Công ty V3 đã nộp lại số tiền này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Dù có ý định sẽ làm thủ tục hoàn vé của khách chiều từ Panama đi Brazil đi D đi Singapore để hưởng lợi, nhưng G chưa kịp thực hiện thì bị bắt giữ. Như vậy, trong chuyến này Lê Văn G chưa thu lợi được gì từ việc tham gia tổ chức cho 10 người trốn đi Mỹ để ở lại lao động trái phép.

- Đối với Trần Đình L1:

“Chien N” hứa hẹn trả cho L1 1.000 USD cho 01 người trốn đi Mỹ thành công, nhưng do L1 bị bắt nên chưa nhận được tiền từ “Chien Nguyen”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 31-01-2024, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng:

1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 349; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 2 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

L6 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-6-2023.

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 349; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Trần Đình L1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01-7-2023 đến ngày 08-11-2023).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 05-02-2024, Lê Văn G kháng cáo xin giảm hình phạt.

- Ngày 07-02-2024, Trần Đình L1 kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.

- Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VC2 ngày 29-02-2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xác định Lê Văn G và Trần Đình L1 là người thực hành trong vụ án để không áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; không áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tăng hình phạt đối với các bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Sau khi xét xử phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo bản án; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị bản án. Đơn kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 và khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VC2 ngày 29-02-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo tranh luận công khai; nói lời sau cùng, các bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị được chấp nhận kháng cáo.

. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát:

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xác định các bị cáo đều làm theo sự chỉ đạo của đối tượng có tài khoản Viber tên “Chien Nguyen” là hướng dẫn cho những người có nhu cầu xuất cảnh trái phép sang Mỹ theo định hướng mà đối tượng “Chiên Nguyên” đã có kế hoạch từ trước để hưởng lợi từ tiền bán vé máy bay, nên vai trò trong vụ án là không đáng kể và đủ điều kiện để được áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự, do đó đã rút toàn bộ kháng nghị. Vì vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

. Xét kháng cáo của các bị cáo:

. Về tội danh:

Thông qua mối quan hệ với chủ tài khoản V có tên “Chien Nguyen” (không rõ lai lịch), ngày 29-5-2023 và ngày 30-5-2023, Lê Văn G và Trần Đình L1 đã thực hiện hành vi đặt vé máy bay, hướng dẫn tổ chức cho 18 người trốn sang Mỹ lao động trái phép dưới hình thức du lịch (đã xuất cảnh thành công 15 người còn 03 người bị phát hiện tại sân bay). Trong đó, Lê Văn G 02 lần tổ chức cho 18 người, thu lợi bất chính 214.692.000 đồng, Trần Đình L1 01 lần tổ chức cho 10 người, nhưng chưa thu lợi, thì bị bắt.

Với hành vi phạm tội như nêu trên, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng kết án Lê Văn G và Trần Đình L1 về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép” theo Điều 349 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3.2.]. Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh; ảnh hưởng xấu đến quan hệ hợp tác quốc tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các bị cáo có đủ khả năng để nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ cá nhân, muốn thu lợi bất chính, các bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, đối tượng có tài khoản Viber “Chien Nguyen” là người khởi xướng, rủ rê lôi kéo Lê Văn G và Trần Đình L1 cùng thực hiện hành vi phạm tội, “Chien Nguyen” chỉ đạo G và L1 tìm kiếm khách có nhu cầu trốn đi nước ngoài, chỉ đạo mọi hoạt động xuyên suốt quá trình tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép, phụ trách việc nhận khách ở nước ngoài và bố trí công việc cho họ, chuẩn bị thẻ tạm trú giả để xuất trình cho cơ quan chức năng tại nước ngoài; Lê Văn G làm việc theo sự chỉ đạo của “Chien Nguyen”, lập các nhóm Viber với khách có nhu cầu trốn đi nước ngoài, đặt vé máy bay theo lộ trình “Chien Nguyen” chỉ định, hướng dẫn thủ tục giấy tờ, vé máy bay, cách khai báo, cách ăn mặc cho khách để đối phó với cơ quan chức năng; còn Trần Đình L1 phụ trách thu tiền vé trực tiếp từ khách rồi đưa cho Lê Văn G đặt vé, phối hợp với G cùng quản lý, hướng dẫn khách. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân của “Chien Nguyen”; còn các bị cáo Lê Văn G, Trần Đình L1 thực hiện hành vi giúp sức cho “Chien Nguyen” để đưa người khác trốn đi nước ngoài trái phép, nhưng các phạm tội với vai trò thứ yếu; do đó, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt Lê Văn G 04 năm 06 tháng tù, xử phạt Trần Đình L1 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu mà các bị cáo đã gây ra.

Các bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét hành vi, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt cụ thể:

- Đối với Lê Văn G:

Bị cáo 02 lần tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép, thu lợi bất chính 214.692.000 đồng, nên cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm; tự nguyện nộp toàn bộ tiền thu lợi bất chính; gia đình bị cáo có công với cách mạng; có ông ngoại được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba, bà ngoại được Nhà nước tặng Kỉ niệm chương chiến sĩ Trường Sơn H, bà nội tham gia dân công hỏa tuyến; đồng thời, tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp được tài liệu chứng minh có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tích cực làm công tác thiện nguyện trong các lần địa phương bị thiên tai, lũ lụt (có xác nhận của chính quyền địa phương) và được những người có liên quan (đối tượng bị đưa đi nước ngoài trái phép) có đơn xin giảm hình phạt. Do bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Tòa án cấp phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Đối với Trần Đình L1:

Bị cáo 01 lần tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép nhưng chưa thu lợi bất chính. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm; gia đình bị cáo có công với cách mạng; ông nội là liệt sĩ, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc trong việc xây dựng tuyến đường kiểu mẫu thôn T, thôn A năm 2020, được Chủ tịch UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế tặng giấy khen; có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến học năm 2002-2023, được Hội khuyến học xã Q tặng Giấy khen; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bản thân bị cáo sức khỏe không tốt, mắc nhiều bệnh như đái tháo đường, viêm gan B.... Ngoài ra, bị cáo tham gia trong vụ án này với với trò không đáng kể (chỉ nhờ đặt vé cho những người có nhu cầu xuất cảnh) và được những người này có đơn xin giảm hình phạt. Do bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, giảm hình phạt cho bị cáo.

. Về áp dụng pháp luật:

Xét thấy, Lê Văn G và Trần Đình L1 đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, là đồng phạm tham gia với vai trò giúp sức không đáng kể, làm theo sự chỉ đạo, phân công của “Chien Nguyen”; đồng thời, các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; do đó, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhẹ hơn liền kề là đúng pháp luật.

Các bị cáo đều bị truy tố và xét xử về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”, nhưng khi quyết định tội danh, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng lại viện dẫn tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” là thiếu sót, nên cần rút kinh nghiệm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

. Về án phí:

Do được chấp nhận kháng cáo, nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VC2 ngày 29-02-2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn G.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Đình L1.

- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 31-01-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về phần Trách nhiệm hình sự đối với Lê Văn G và Trần Đình L1.

3. Về trách nhiệm hình sự:

3.1. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 349; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Lê Văn G 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-6-2023.

3.2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 349; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Trần Đình L1 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo thi hành án (được trừ thời gian tạm giam từ ngày 01-7-2023 đến ngày 08-11-2023).

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Lê Văn G và Trần Đình L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ