- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 298/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA- TÆNH ÑOÀNG NAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Kim Kiên - Phó Chủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Biên Hoà.
Bà Nguyễn Thị Kim Yến - Phó Chủ tịch Ủy ban mặt trận tổ quốc thành phố BH.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:1736/2023/TLST–HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 319/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Hẻm 2, tổ 25, khu phố 5A, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Hẻm 2, tổ 25, khu phố 5A, phường TD, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
(Chị H, anh Gi có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Gi tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, chồng cờ bạc, ghen tuông đánh đập vợ. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh Gi đã sống ly thân từ tháng 05 năm 2023 cho đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
- Về con chung: Chị H xác định có 01 con chung cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014. Hiện nay cháu Kh đang ở với chị. Ly hôn, chị xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh. Tạm thời chị không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không yêu cầu và cung cấp tài liệu chứng cứ gì khác.
- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn Gi trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn với nhau năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 vợ làm công ty đa cấp từ đó vợ chồng sinh ra mâu thuẫn do vợ thường xuyên đi sớm về trễ có nhiều lần đi qua đêm không về bỏ mặc chồng con đau ốm không quan tâm, không có trách nhiệm với chồng, vợ chồng có xô xát đánh nhau. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay. Nay Chị H xin ly hôn thì anh không đồng ý vì muốn hàn gắn đoàn tụ và còn tình cảm với vợ.
- Về con chung: Anh Gi xác định có 01 con chung cháu Nguyễn Văn Kh sinh ngày 04/10/2014. Quá trình hòa giải anh đồng ý giao cháu Kh cho Chị H nuôi, tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, anh xin được nuôi cháu Kh và không yêu cầu Chị H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra anh không có ý kiến gì và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH:
+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết, Tòa án đã xác định đúng theo quy định pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định pháp luật.
+ Về vieäc giải quyết tranh chaáp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014 cho Chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định.
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn còn anh Nguyễn Văn Gi là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn Gi có hộ khẩu thường trú tại thành phố Biên Hoà và hiện nay đang cư trú tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Gi có mặt tại phiên tòa căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Toà án tiến hành xét xử theo quy định.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, HĐXX xét thấy: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn Gi tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA. Được Ủy ban nhân dân xã LS, huyện AS, tỉnh NA cấp giấp kết hôn số 34/2014, quyển 02/2012, ngày 25/4/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau, chồng cờ bạc, ghen tuông đánh đập vợ. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nên đã nhiều lần vợ chồng ngồi lại tìm các giải quyết nhưng không có kết quả. Hiện nay chị và anh Gi đã sống ly thân từ tháng 05 năm 2023 cho đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Gi. Anh Gi cũng thừa nhận quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 5/2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xét yêu cầu ly hôn của Chị H là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quý trọng chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Trong quá trình hai vợ chồng sống ly thân chị và anh Gi không có biện pháp gì để hàn gắn đoàn tụ. Theo Biên bản xác minh tại Công an phường TD, thành phố Biên Hoà ngày 25/7/2023 cung cấp như sau: “Anh Nguyễn Văn Gi có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Việc mâu thuẫn vợ chồng Chị H có báo Công an phường nhưng không yêu cầu nên Công an phường nhắc nhở và hướng dẫn Chị H làm đơn ra Tòa án để giải quyết ly hôn theo yêu cầu”. Như vậy, thể hiện việc mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa Chị H, anh Gi là có thật, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải và tại phiên tòa Chị H vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với anh Gi nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
- Về con chung: Chị H, anh Gi xác định có 01 con chung cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014. Ly hôn Chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kh và không yêu cầu anh Gi cấp dưỡng nuôi con. Quá trình hòa giải anh Gi đồng ý giao con cho Chị H nhưng tại phiên tòa anh Gi xin nuôi cháu Kh và không yêu cầu Chị H cấp dưỡng nuôi con.
Xét về điều kiện nuôi con: Căn cứ vào lời khai, xác nhận mức lương thì Chị H và anh Gi hiện nay đều làm việc tại thành phố Biên Hoà có công việc và mức lương ổn định. Như vậy, xét về điều kiện kinh tế thì Chị H và anh Gi tương đồng nhau nhưng hiện nay cháu Kh đang ở với Chị H và cháu có nguyện vọng ở với Chị H. Để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý và việc học của cháu Kh nên giao cháu Kh cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của Chị H giao cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014 cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu.
Anh Gi được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đương sự:
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Xét yêu cầu của Chị H phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Ngyễn Văn Giáp không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- Áp dụng Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn Gi.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Kh, sinh ngày 04/10/2014 cho Chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu.
Anh Gi được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Chị H đã nộp tại biên lai số 0008405 ngày 04/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BH. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn Gi không phải nộp án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn Gi được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh;
- VKSND TP. BH;
- THA dân sự;
- UBND nơi ĐKKH;
- Đương sự;
- Lưu.
Nguyễn Thị Quỳnh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Quỳnh
NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN NAM ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Thìn
Huỳnh Thị Kim Kiên
Nguyễn Thị Quỳnh
TM.NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh; - VKSND TP. BH; - THA dân sự ; - Đương sự; - UBND phường An Bình,TP.Biên Hoà; - Lưu. THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA TÆNH ÑOÀNG NAI BIEÂN BAÛN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 04/9/2020 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân TP. BH, tỉnh Đồng Nai Vôùi hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù: Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: OÂng Trần Văn Chánh- Cán bộ hưu trí. thành phố Biên Hoà. ngày 20 tháng 7 năm 20120 về việc “Tranh chấp ly hôn”, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hằng, sinh năm 1976. tỉnh Đồng Nai. - Bị đơn: Ông Trần Văn Khoa, sinh năm 1973. tỉnh Đồng Nai. phiên tòa, các quy định của pháp luật. NAM ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Về tố tụng: hôn với ông Trần Văn Khoa, sinh năm 1973; Địa chỉ: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai . Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. Ngày 31/7/2020 ông Trần Văn Khoa có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chưng cứ và hoà giải và vắng mặt tại các phiên toà khi xét xử nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Khoa. Ngày 13/8/2020, bà Trần Thị Hằng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà Hằng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Ý kiến của Nam thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Nam thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về quan hệ hôn nhân: 1995 tại Ủy ban nhân dân Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/02/1995. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông Khoa nghiện rượu, cờ bạc, nhiều lần ông Khoa đánh đập bà. Mỗi lần đánh đập bà, bà có báo chính quyền địa phương, có thời gian ông Khoa bị đưa đi cải tạo 02 năm nhưng khi trở về vẫn không thay đổi, tính nào tật đó. Ngày 17/4/2020 Công an phường Long Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Khoa về “hành vi lặng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên trong gia đình”. Tuy bị ông Khoa nhiều lần đánh đập nhưng nghĩ về con cái nên bà đã cố chịu đựng nhưng ông Khoa càng ngày càng bạo lực hơn, đe doạ tính mạng của bà và các con. Từ tháng 3/2020 đến nay bà và ông Khoa sống ly thân với nhau, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Khoa. Xét yêu cầu ly hôn của bà Hằng là có cơ sở chấp nhận. Do vậy, việc bà Hằng xin ly hôn với ông Khoa là hoàn toàn có căn cứ nên Nam đồng xét xử chấp nhận. - Ý kiến của Nam thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Nam thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về con chung: sinh ngày 19/11/1995, cháu Trần Thế Anh, sinh ngày 07/11/1999 và cháu Trần Mạnh Hùng, sinh ngày 18/01/2007. Ly hôn bà Hằng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hùng, ông Khoa cũng đồng ý giao cháu Hùng cho bà Hằng nuôi. Do đó, Nam đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Hùng đang ở với bà Hằng, do bà Hằng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định về việc học tập và sinh hoạt cho cháu Hùng, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Hằng, giao cháu Hùng cho bà Hằng chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông Khoa không phải cấp dưỡng nuôi con cháu Hùng. Riêng cháu Huyền, cháu Anh đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết. quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. - Ý kiến của Nam thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Nam thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. chung: Bà Hằng và ông Khoa tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết; về nợ chung: Bà Hằng và ông Khoa khai không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. - Ý kiến của Nam thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Nam thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về án phí: Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. - Ý kiến của Nam thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Nam thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về quyền kháng cáo: thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án. - Ý kiến của Nam thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Nam thẩm Chánh. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 04 tháng 9 năm 2020. và ký tên dưới đây. NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN NAM ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chánh Huỳnh Thị Kim Kiên NAM ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Nam thẩm nhân dân | Nguyễn Thị Quỳnh TOØA AÙN NHAÂN DAÂN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM Ñoäc Laäp – Töï do – Haïnh Phuùc Bà Huỳnh Thị Kim Kiên- Nam liên hiệp phụ nữ Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 1710/2020/TLST – HNGĐ Thường trú: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố BH, Thường trú: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố BH, (Bà Hằng và ông Khoa có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại - Ý kiến của Nam thẩm Chánh: bà Trần Thị Hằng nộp đơn yêu cầu giải quyết ly - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai Nam thẩm nhân. - Ý kiến của Nam thẩm Chánh: Bà Hằng và ông Khoa tự nguyện kết hôn vào năm - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai Nam thẩm nhân. - Ý kiến của Nam thẩm Chánh: có 03 con chung là cháu Trần Thị Hồng Huyền, Ông Khoa được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai Nam thẩm nhân. Về tài sản chung và nợ chung: Ý kiến của Nam thẩm nhân dân Chánh:Về tài sản - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai Nam thẩm nhân. - Ý kiến của Nam thẩm Chánh: Bà Trần Thị Hằng phải nộp 300.000đồng án phí - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai Nam thẩm nhân. - Ý kiến của Nam thẩm Chánh: Bà Hằng và ông Khoa có quyeàn khaùng caùo trong - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai Nam thẩm nhân. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Nam đồng xét xử cùng nghe Nguyễn Thị Quỳnh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |