- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 298/2021/HNGĐ - ST Ngày: 01 - 7 - 2021 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Văn Hùng;
Ông Phạm Văn Trung.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 146/2021/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị L, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, huyện Ngọc H, tỉnh Kom Tum (Xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn S, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Khóm Vĩnh H, thị trấn Vĩnh Thạnh Tr, huyện CP, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/3/2021 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Đinh Thị L trình bày: Chị và anh S chung sống năm 2017, có Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kom Tum vào ngày 09/01/2018. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, dần về sau phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cải vả nhau, anh S thường hay cờ bạc, số đề, không lo làm ăn, không quan tâm vợ con, đã ly thân từ tháng 3/2020 đến nay. Nay tình cảm không còn không thể hàn gắn được nên xin ly hôn với anh S. Con chung có 01 con chung tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 24/4/2018 hiện đang ở với anh S, ly hôn giao cháu Đ cho anh S nuôi dưỡng, không cấp dưỡng. Tài sản chung không yêu cầu, nợ chung: không có.
Đối với bị đơn anh Phạm Văn S Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh S vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh S.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của chị L và anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị L yêu cầu ly hôn với anh S là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 24/4/2018 hiện đang ở với anh S, sau khi vợ chồng ly thân đến nay cháu Đ do anh Anh chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung, theo yêu cầu của chị L giao cháu Đ cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không cấp dưỡng nuôi con chung, anh S vắng mặt không ghi nhận được ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này anh S có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Văn S có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Vĩnh Thạnh Tr, huyện CP. Chị L khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị L anh S chung sống với nhau vào năm 2017, có Đ ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kom Tum vào ngày 09/01/2018, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi kết hôn anh chị có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân từ tháng 3/2020 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị L xin ly hôn với anh S. Quá trình giải quyết vụ án, chị L đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, còn anh S không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy chị L và anh S đều không có ý định hàn gắn quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
- Về con chung: Chị L và anh S chung sống có 01 con chung tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 24/4/2018 hiện đang ở với anh S. Ly hôn, chị L giao cháu Đ cho anh S tiếp tục nuôi. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu Đ do anh Anh chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, theo ý kiến của chị L giao cháu Đ cho anh S được tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 24/4/2018 cho anh S được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không cấp dưỡng nuôi con chung, anh S vắng mặt không ghi nhận được ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau này anh S có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Chị L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị L.
Về hôn nhân: Chị Đinh Thị L được ly hôn với anh Phạm Văn S.
Giấy chứng nhận Đ ký kết hôn số 01/2018 ngày 09/01/2018 của Ủy ban dân xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kom Tum không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao con chung tên Phạm Hải Đ, sinh ngày 24/4/2018 cho anh Phạm Văn S được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh S cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở chị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đinh Thị L phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án phi
̀
́ Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) ta ̣m ứ ng
̀ án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0008811 ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Cu ̣c thi
́ hành án dân sự huyện CP.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAT An Giang; - THA huyện CP; - VKSND huyện CP; - UBND xã Sa Loong, h. Ngọc Hồi , tỉnh Kom Tum; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Mỹ |