- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân K cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân K và Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm c p tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 298/2020/HS-ST Ngày 05-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Th Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2020 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 262/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 297/2020/QĐXX-HS ngày 23/7/2020 đối với các bị cáo:
1. Ngô Xuân K, sinh năm 1991 tại tỉnh Ng; thƣờng tr : Xóm 10, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Ng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Xuân T, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1964; bị cáo có 03 anh em ruột lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1993; bị cáo có vợ tên Phan Thị Kim Ph, sinh năm 1995; có 02 con ruột, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/02/2018, bị Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc; bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 02/3/2020 cho đến nay, có m t.
2. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1987 tại tỉnh Th ; thƣờng tr : Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Th; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm không rõ và Cao Thị H, sinh năm không rõ; bị cáo có 04 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1996; bị cáo có vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh G, tỉnh Th xử phạt 09 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Chống ngƣời thi hành công vụ, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2006/HSST; bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 02/3/2020 cho đến nay; có m t.
- Bị hại: Anh Hoàng Nhật M, sinh năm 1988; thƣờng trú: Số 192/2A khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B; v ng m t.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Võ Văn L; sinh năm 1996; v ng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:
Nguyễn Văn Th và Ngô Xuân K là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội. Khoảng 15 giờ ngày 02/3/2020, Nguyễn Văn Th điều khiển xe mô tô kiểu dáng Plower màu đen bạc, biển số 61L4-8478 đến phòng trọ của K tại địa chỉ khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B để chơi. Tại đây, Th rủ K đi tìm xe của ngƣời dân để sơ hở chiếm đoạt bán lấy tiền thì K đồng ý. L c này, K đi đến cửa sổ phòng trọ lấy một chiếc chìa khóa Honda mà K nh t đƣợc trƣớc đó cho vào t i quần bên phải. Sau đó, Th chở K đi lòng vòng trên địa bàn phƣờng Dĩ An. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Th chở K đi ngang qua con hẻm bên cạnh số nhà 90 đƣờng Nguyễn Trãi, khu phố Th, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B thì K phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe nữ màu xanh, biển số 75FC-4440 của anh Hoàng Nhật M đang dựng bên trong hẻm không có ngƣời trông coi nên K nói Th quay xe lại để K chiếm đoạt chiếc xe này. Th điều khiển xe chở K vào bên trong con hẻm và điều khiển xe chạy chậm cho K nhảy xuống xe rồi dừng xe cách chỗ K khoảng 3m, còn K đi đến tiếp cận xe mô tô biển số 75FC-4440 rồi dùng chìa khóa honda mang theo c m vào ổ khóa để v n công t c, K ngồi lên xe đạp nổ máy rồi điều khiển xe đi đƣợc khoảng 5m thì bị anh M truy hô cùng ngƣời dân ch n xe nên K bỏ xe chạy bộ đƣợc khoảng 5m thì bị b t giữ và giao cho Công an phƣờng Dĩ An lập biên bản b t ngƣời phạm tội quả tang đồng thời chuyển giao cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, thành phố xử lý. Riêng Nguyễn Văn Th bỏ chạy thoát. Đến 18 giờ cùng ngày, Th đến Công an phƣờng Dĩ An đầu th .
- Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe nữ màu xanh, số khung 3224972, số máy 6110734, biển số 75FC-4440; 01 (một) xe môtô kiểu dáng Plower màu đen bạc, số khung 71210574, số máy 210574, biển số 61L4-8478; 01 (một) chìa khóa xe nhãn hiệu Honda; 01 (một) áo thun ng n tay màu đen; 01 (một) quần kaki dài màu nho; 01 (một) áo khoác màu xám và 01 (một) USB ghi lại hình ảnh Th và K trộm c p tài sản.
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 37/BB.ĐG ngày 05/03/2020 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại xe nữ màu xanh, số khung 3224972, số máy 6110734, biển số 75FC-4440, trị giá 3.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì các Kết luận giám định số: 37/BB.ĐG ngày 05/3/2020 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng.
Tại cáo trạng số:294/CT – VKS ngày 22 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Ngô Xuân K và Nguyễn Văn Th về tội trộm c p tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Xuân K mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th mức án từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe nữ màu xanh, số khung 3224972, số máy 6110734, biển số 75FC-4440 thuộc sở hữu của anh Hoàng Nhật M nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho anh M.
- Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Plower màu đen bạc, số khung 71210574, số máy 210574, biển số 61L4-8478 là tài sản riêng của Nguyễn Văn Th, Th sử dụng xe trên để chở K đi trộm c p tài sản nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 (một) chìa khóa xe nhãn hiệu Honda thu giữ của Ngô Xuân K, 01 (một) áo thun ng n tay màu đen; 01 (một) quần kaki dài màu nho và 01 (một) áo khoác màu xám thu giữ của Nguyễn Văn Th, thu giữ của Nguyễn Văn Th, không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) USB, chứa hình ảnh của trộm c p của các bị cáo nên đề nghị tịch thu lƣu hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã đƣợc thu hồi, trả lại cho bị hại Hoàng Nhật M và bị hại M không yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự không đ t ra.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, bị hại, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, bị hại và ngƣời làm chứng; biên bản b t ngƣời có hành vi phạm tội quả tang; biên bản tiếp nhận ngƣời phạm tội ra đầu th và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 17 giờ 30 ph t ngày 02/3/2020, tại địa chỉ con hẻm bên cạnh số nhà 90 đƣờng Nguyễn Trãi, khu phố Thống Nhất 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Ngô Xuân K và Nguyễn Văn Th lén l t chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại xe nữ màu xanh, số khung 3224972, số máy 6110734, biển số 75FC-4440 của bị hại Hoàng Nhật M có trị giá 3.000.000 đồng
Nhƣ vậy, hành vi trên đây của các bị cáo Ngô Xuân K và Nguyễn Văn Th đã lén l t chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 3.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 294/CT – VKS ngày 22 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố các bị cáo về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đ ng ngƣời, đ ng tội, đ ng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết ch t chẽ, phân công vai trò cụ thể. Bị cáo Th là ngƣời khởi xƣớng, rủ rê còn bị cáo K là ngƣời trực tiếp chiếm đoạt tài sản của bị hại.
Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo K phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại; bị cáo Th phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại, sau khi phạm tội bị cáo Th đầu th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu thể hiện các bị cáo là ngƣời không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo K có tiền sự về hành Đánh bạc, bị cáo Th đã từng bị Tòa án xét xử về tội Chống ngƣời thi hành công vụ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nhƣng xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, các bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp ổn định, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe nữ màu xanh, số khung 3224972, số máy 6110734, biển số 75FC-4440 thuộc sở hữu của anh Hoàng Nhật M nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại cho anh M nên không đ t ra xem xét.
- Xét 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Plower màu đen bạc, số khung 71210574, số máy 210574, biển số 61L4-8478 là tài sản riêng của Nguyễn Văn Th, Th sử dụng xe trên để chở K đi trộm c p tài sản nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.
- Xét 01 (một) chìa khóa xe nhãn hiệu Honda thu giữ của Ngô Xuân K, 01 (một) áo thun ng n tay màu đen; 01 (một) quần kaki dài màu nho và 01 (một) áo khoác màu xám thu giữ của Nguyễn Văn Th, thu giữ của Nguyễn Văn Th sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) USB, chứa hình ảnh của trộm c p của các bị cáo nên đề nghị tịch thu lƣu hồ sơ vụ án.
Trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã đƣợc thu hồi, trả lại cho bị hại Hoàng Nhật M và bị hại M không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đƣa ra đối với các bị cáo về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân K và Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm c p tài sản”.
1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 10 (mƣời) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2020.
1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Ngô Xuân K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Plower màu đen bạc, số khung 71210574, số máy 210574, biển số 61L4-8478.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chìa khóa xe nhãn hiệu Honda, 01 (một) áo thun ng n tay màu đen; 01 (một) quần kaki dài màu nho và 01 (một) áo khoác màu xám
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Ngô Xuân K và Nguyễn Văn Th, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại v ng m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (03); - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (03); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - THA hình sự (04); - UBND xã, phƣờng bị cáo thƣờng trú (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Ngọc Công |