- Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Thành L - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 298/2020/HS-PT Ngày: 29- 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành
Các thẩm phán:
Ông Trần Minh Tuấn
Ông Trần Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Kính, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 305/2020/TLPT-HS ngày 20/8/2020 đối với bị cáo Châu Thành L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 49/2020/HS-ST ngày 13/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Châu Thành L - Sinh năm 1996 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thợ sửa máy; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn Đ, con bà Trần Thị Thuỷ T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/03/2020 cho đến nay- có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của gia đình bị cáo: Luật sư Nguyễn Khánh L – Chi nhánh Công ty Luật TNHH MTV N & Cộng sự tại Đắk Nông; địa chỉ: tỉnh Đắk Nông (Có đơn xin xét xử vắng mặt, có gửi luận cứ bào chữa ).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/10/2019, Châu Thành L ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV chuyển phát nhanh T, Chi nhánh Tây Nguyên (được gọi tắt là Công ty T) với công việc là nhân viên giao nhận, vận chuyển đóng gói sản phẩm. Trong quá trình làm việc, L làm mất hàng hoá nên phải bồi thường tiền cho Công ty và nợ Công ty một số tiền. Khoảng cuối tháng 02/2020, L gặp và quen hai người đàn ông tên B và Minh (không rõ nhân thân, lai lịch). Ngày 29/02/2020, B hẹn gặp L và thoả thuận thuê L vận chuyển ma tuý cho B và M từ thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với tiền công là 3.500.000 đồng. Do cần tiền để trả nợ nên L đã đồng ý nhận lời. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/3/2020, L bắt xe khách (không rõ nhà xe và biển số xe) đi từ thành phố B đến thành phố Đ. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày, L đến thành phố Đ và thuê nhà nghỉ A thành phố Đ để nghỉ.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/3/2020, theo sự hướng dẫn của B và M (gọi điện thoại cho L thông qua mạng xã hội Zalo), L đi đến khu vực đường T, thành phố Đ và đứng trước 01 quán karaoke, cà phê có biển hiệu tiếng nước ngoài (L không nhớ địa chỉ cụ thể) gặp một người đàn ông điểu khiển xe mô tô hiệu SH (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Người đàn ông này chở L đi lòng vòng khoảng 20 phút đến một khu vực vắng người qua lại thì giao cho L 01 bịch bên trong có 03 gói nylon chứa ma tuý. L cất ma tuý vào trong túi vải màu đen đeo trên người rồi đi đến bến xe khách Đ đón xe đi về thành phố B. Khoảng 15 giờ ngày 02/3/2020 L xuống xe ở khu vực trước khách sạn M, thành phố B và liên lạc với người đàn ông tên B để giao ma tuý và nhận tiền công. Khoảng 30 phút sau B điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến và chở L đi tới khu vực phía trước siêu thị CoopMart thuộc phường T, thành phố B rồi L xuống xe để B đi đến cây ATM rút tiền trả tiền công cho L. Khi L đang đứng đợi B phía trước siêu thị CoopMart thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ của L 03 gói nylon màu trắng gồm có: 01 gói nylon màu trắng bên trong có chứa các chất rắn dạng tinh thể, 01 gói nylon màu trắng bên trong có chứa 73 viên nén màu hồng, 01 gói nylon màu trắng bên trong có chứa 100 viên nén màu hồng; 01 điện thoại Iphone màu xám số Imei 354391069953029 kèm theo sim số xxxxxxxxxx và 01 túi vải màu đen có ký hiệu Y.
Tại bản kết luận giám định số 178/GĐMT-PC09 ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:
- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 41,6753 gam, loại Ketamine.
- 73 viên nén màu hồng đựng trong 01 gói nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng: 28,5102 gam, loại: MDMA.
- 100 viên nén màu hồng đựng trong 01 gói nylon màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng: 38,9787 gam, loại: MDMA.
Bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS-P1 ngày 03/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Châu Thành L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2020/HSST ngày 13/7/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Châu Thành L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Châu Thành L 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2020.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 27/7/2020 bị cáo Châu Thành L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, xem xét ý kiến của Luật sư, quan diểm của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo Châu Thành L thừa nhận hành vi và tội danh như Toà án cấp sơ thẩm xét xử là đúng, chỉ giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt.
Lời khai của bị cáo Châu Thành L tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để kết luận: Trong quá trình làm việc tại Công ty T thì bị cáo có nợ Công ty một số tiền, để có tiền trả nợ nên L đã nhận lời vận chuyển ma tuý cho đối tượng tên B và M (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với tiền công là 3.500.000 đồng. Khoảng 18 giờ 00 ngày 01/3/2020 bị cáo bắt xe khách đi từ thành phố B đến thành phố Đ theo sự chỉ dẫn của B và M để gặp một người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhận 03 gói ma tuý. Sau đó, ngày 02/3/2020 L bắt xe khách về thành phố B rồi liên lạc với B đến để giao ma tuý và nhận tiền công. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày thì L bị Công an bắt quả tang và thu giữ 01 gói ma tuý có khối lượng 41,6753 gam Ketamine, 02 gói ma tuý chứa 173 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 67,4889 gam MDMA. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ vào số lượng và các loại ma túy mà bị cáo đã thực hiện hành vi vận chuyển thì theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị Định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ cần áp dụng điểm h khoản 3 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo.
Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Châu Thành L không những đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, mà còn gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho xã hội, là nguyên nhân có thể phát sinh các loại tội phạm khác như: trộm cắp, cướp. . . , gây tổn hại cho sức kho con người, đồng thời là nguyên nhân lây truyền các căn bệnh xã hội nguy hiểm nói chung. Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được rằng: Chất ma tuý là loại độc dược gây nghiện, thuộc sự quản lý độc quyền của Nhà nước, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích tư lợi cá nhân mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, từ đó tuyên phạt bị cáo 17 năm tù là tương xứng với tính chất hành vi, hậu quả vụ án mà bị cáo đã gây ra. Trong giai đoạn phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Châu Thành L phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/NQ-UBTVQHK14 về án phí, lệ phí Toà án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Châu Thành L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Châu Thành L 17 (Mười bảy) năm tù, về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2020.
Về án phí phúc thẩm hình sự: Bị cáo Châu Thành L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSTHAHS – Công an tp BMT; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam CA tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Mai Xuân Thành |