vanban.org

Bản án 298/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Kiều D yêu cầu ly hôn với anh Trần Út E"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 298/2019/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 11 - 2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Kim Cúc.

Ông Nguyễn Văn Hận.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 590/2019/TLST-HNGĐ ngày 03/9/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 348/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 337/2019/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1984.

- Bị đơn: Trần Út E, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: Khóm 7, thị t, huyện T, tỉnh C .

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/9/2019 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Vào năm 2003 chị D và anh E được 02 bên gia đình tổ chức đám cưới với nhau, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/9/2003 (giấy chứng nhận kết hôn số: 134/2003). Thời kỳ hôn nhân có 02 con chung tên Trần Tấn L, sinh 31/10/2003 và Trần Tấn P, sinh 13/5/2007 (các con chung hiện nay anh E đang nuôi dạy).

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và anh E thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn về đập phá đồ đạc trong nhà, kiếm chuyện cự cải và hăm dọa đánh chị D, dẫn đến đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài.

Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh E; về con chung đồng ý giao 02 con chung cho anh E nuôi dạy, chị D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

- Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, 02 lần để xét xử, nhưng anh E đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị D xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh E mâu thuẫn trầm trọng, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là đúng theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị D khởi kiện anh E về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con và anh E có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về thủ tục: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ 02 lần để xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét về yêu cầu ly hôn: Mối quan hệ hôn nhân của chị D và anh E được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tiến bộ là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau; nhưng chị D và anh E không làm được điều đó mà lại làm cho đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, do đó xác định chị D và anh E đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến các hệ lụy nêu trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này sẽ không đảm bảo hạnh phúc về sau, nên cần chấp nhận cho ly hôn giữa chị D và anh E là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Xét về con chung:

- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Trong quá trình hôn nhân chị D và anh E có 02 con chung Trần Tấn L và Trần Tấn P hiện nay đang được anh E nuôi dạy, hiện nay các cháu đã từ đủ 7 tuổi trở lên, Tòa án đã đến nơi cư trú của các cháu để làm việc ghi nhận ý kiến của các cháu có nguyện vọng được sống với ai, nhưng chính quyền địa phương nơi cư trú của các cháu xác định các cháu hiện nay không có mặt ở địa phương và không rõ ở đâu, nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của các cháu được. Hội đồng xét xử xét thấy anh E hiện nay đang trực tiếp nuôi dạy các cháu và chị D cũng đồng ý giao các cháu cho anh E nuôi dạy, nên cần giao các cháu cho anh E nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị D có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung, không ai được cản trở chị D thực hiện quyền này và chị D phải tôn trọng quyền của các con chung được sống với anh E là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Chị D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh E về mức cấp dưỡng nuôi con, nhưng Hội đồng xét xử xét đối với mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng, theo hướng dẫn tại khoản 2, mục III Công văn số: 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới ½ mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng, do đó cần buộc chị D cấp dưỡng nuôi cháu Lợi và cháu Phát mỗi cháu 01 tháng là 745.000 đồng và phương thức cấp dưỡng hàng tháng là phù hợp theo quy định tại Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về tài sản chung và nợ chung: Chị D cho rằng vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh E, nên chưa có căn cứ làm rõ phần tài sản chung và nợ chung giữa chị D và anh E. Do đó, cần tách phần tài sản chung và nợ chung ra, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Xét về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị D phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị D đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn Nguyễn Thị Kiều D.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa Nguyễn Thị Kiều D và Trần Út E. (Giấy chứng nhận kết hôn số: 134/2003 ngày 01/9/2003 của Ủy ban nhân thị trấn Sông Đốc hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

- Về con chung: Giao cho anh E trực tiếp nuôi dạy các con chung tên Trần Tấn L, sinh 31/10/2003 và Trần Tấn P, sinh 13/5/2007. Chị D có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung, không ai có quyền ngăn cản chị D thực hiện quyền này và chị D phải tôn trọng quyền của các con chung được sống với anh E.

Buộc chị D giao cháu Trần Tấn L và cháu Trần Tấn P cho anh E nuôi dạy.

Chị D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trần Tấn L và cháu Trần Tấn P mỗi cháu với số tiền 745.000 đồng/tháng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Phương thức cấp dưỡng được thực hiện hàng tháng kể từ ngày 22/11/2019.

Kể từ ngày anh E có đơn yêu cầu thi hành án mà chị D chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, thì hàng tháng chị D còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Về án phí sơ thẩm:

Chị D phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị D phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng, chị D đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số: 0002617 ngày 03/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ. Chị D phải nộp tiếp án phí với số tiền là 300.000 đồng (chưa nộp).

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ