- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hoàng Vân - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 297/2023/HSPT Ngày: 05 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực
Các Thẩm phán:
1. Ông Trương Công Huấn;
2. Ông Ngô Đức Thụ.
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang Thư
ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 238/2023/HSPT ngày
07 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V, do có kháng cáo của
bị cáo và kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HSST
ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Bị cáo và bị hại có kháng cáo:
Nguyễn Thị Hoàng V; giới tính: nữ; Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1976, tại
Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 02 T, phường P, Quận C,
Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số A75/6E/65 đường B, Phường M, quận
N, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: phật;
nghề nghi p: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Nguyễn Văn H và
bà Dương Thị C; chồng: Võ P (đã ly hôn) và có 03 người con (lớn nhất sinh năm
2003, nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi
cư trú - có m t.
Bị hại: Ông Di p Trí P(sinh năm 1988); nơi cư trú: số 02 đường P,
phường T, Thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, có đại di n theo ủy quyền:
ông Đ ng Thanh Sâm (sinh năm 1985), giấy ủy quyền ngày 20/6/2023 - có m t.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp P cho bị hại: Ông Thái Văn Chung –
Luật sư, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - có m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Hoàng V và ông Di p Trí P có mối quan h tình cảm sống
chung như vợ chồng và hợp tác kinh doanh. Trong quá trình hợp tác kinh doanh, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vào khoảng 21 giờ ngày 08/6/2021, giữa V và ông P xảy ra tranh cãi và xô xát tại nhà của V ở số 41 Nguyễn Thị Di u, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, ông P bỏ đi về, V nói tài xế của V là Nguyễn Đông Dương sử dụng xe Mitsubishi Grandis màu đỏ biển số 52Z-2554 chở V và Trần Thị Hạnh Dung (thư ký của V) đi đến nhà ông P tại đường Bạch Đằng, Phường 2, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để nói chuy n. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đến trước cửa nhà ông P, V gọi đi n và nhấn chuông nhưng ông P không nghe đi n thoại cũng không mở cửa. Lúc này V thấy xe ô tô hi u Yaris màu đỏ biển số 60A-52138 của ông P đậu trước nhà số 54/20 Bạch Đằng, Phường 2, quận Tân Bình, V liền xuống xe lấy cục đá (lượm trên đường trước đó) rồi đi bộ đến chỗ chiếc xe ô tô biển số 60A-52138, dùng cục đá đập nhiều cái làm trầy bể vở: kính chắn gió, kính cửa trước và cửa sau bên phải, kính cửa trước bên trái của xe.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 19/HĐĐGTS-TTHS về
giá trị thi t hại của xe ô tô hi u Toyota Yaris biển số 60A-52138 bị đập phá gây hư hỏng một phần có thể sửa chữa, khắc phục vào thời điểm ngày 08/6/2021 như sau: Kính chắn gió: 01 cái trị giá 8.144.000 đồng; kính cửa sổ sau bên phải: 01 cái trị giá 2.498.000 đồng; kính cửa trước bên phải: 01 cái trị giá 3.263.000 đồng; kính cửa trước bên trái: 01 cái trị giá 3.263.000 đồng; Công thợ: 2.200.000 đồng. Tổng cộng: 19.368.000 đồng. Riêng kính cửa hậu 01 cái trị giá 6.853.000 đồng, kết quả điều tra Cơ quan điều tra trích xuất Camera an ninh, xác định không do V tác động gây ra.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án
nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài
sản .
Xử phạt: Nguyễn Thị Hoàng V 06 (Sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày
bắt bị cáo chấp hành án.
[2] Ghi nhận sự tự nguy n của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V bồi thường
cho ông Di p Trí Psố tiền 31.805.000 đồng (Ba mươi mốt tri u, tám trăm lẻ năm ngàn đồng, do bị cáo đã nộp 26.221.000 đồng (Hai mươi sáu tri u, hai trăm hai mươi mốt ngàn đồng) nên bị cáo còn phải trả thêm cho ông Di p Trí Psố tiền 5.584.000 đồng (Năm tri u, năm trăm tám mươi bốn ngàn đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo.
Ngày 19/5/2023 bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V có đơn kháng cáo xin được
áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
Ngày 24/5/2023 bị hại ông Di p Trí Pcó đơn kháng cáo yêu cầu tăng hình
phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới là sau khi xét
xử sơ thẩm bị cáo đã giao nộp số tiền còn lại 5.548.000 đồng để bồi thường thi t
hại cho bị hại theo bản án đã tuyên; bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia
đình phải trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chưa thành niên sau khi ly hôn với
chồng cho đến nay.
Đại di n của bị hại xác định, bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu kết
luận về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm xét thấy, bản án sơ thẩm đã
tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V phạm tội: Cố ý làm hư hỏng tài sản là
có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng P luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ
sung các tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khai báo
thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thi t hại khắc phục hậu quả; là
lao động chính trong gia đình phải trực tiếp nuôi dưỡng nuôi 03 người con
(chồng đã ly hôn); hành vi của bị cáo là bộc phát nhất thời do nóng giận nên
không cần thiết áp dụng hình phạt tù. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng hình phạt
chính là phạt tiền và tuyên phạt bị cáo số tiền từ 20.000.000 đồng đến
30.000.000 đồng.
Đối với kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo
Nguyễn Thị Hoàng V là không có cơ sở nên đề nghị bác yêu cầu.
Luật sư bảo v quyền lợi cho bị hại và đại di n của bị hại trình bày: không
đồng ý với quan điểm và đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát. Do mâu thuẫn
trong hợp tác làm ăn giữa bị cáo và bị hại nên bị cáo đã có sự tư thù với bị hại từ
trước nên đã có động cơ xâm hại tài sản của bị hại. Sau khi sự vi c xảy ra bị cáo
không ăn năn hối cải, không thành khẩn mà khai báo bất nhất, nhiều lần đe dọa
bị hại. Ngoài ra vi c phạm tội của bị cáo có sự chuẩn bị trước và có sự chứng
kiến của lái xe Nguyễn Đông Dương, thư ký Trần Thị Hạnh Dung, 02 người này
có sự đồng hành và không ngăn cản khi bị cáo thực hi n hành vi phạm tội nên
vi c cấp sơ thẩm không xem xét trách nhi m là có dấu hi u bỏ lọt tội phạm. Vì
vậy, đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại tăng mức phạt tù đối với bị
cáo và xem xét trách nhi m của người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Giữa bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V và bị hại Di p Trí Pcó quan h tình
cảm và hợp tác kinh doanh. Trong quá trình hợp tác, cả hai phát sinh mâu thuẫn.
Vào khoảng 21 giờ ngày 08/6/2021, giữa V và ông P xảy ra tranh cãi, xô xát tại
nhà của V. Sau đó, ông P bỏ đi về, V gọi đi n cho ông P nói chuy n nhưng ông
P không nghe máy, nên V gọi tài xế là Nguyễn Đông Dương chở V cùng Trần
Thị Hạnh Dung (thư ký của V) đến nhà ông P tại đường Bạch Đằng, Phường 2,
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh để nói chuy n. Khi đến nhà ông P, V
tiếp tục gọi đi n thoại cho ông P, nhấn chuông yêu cầu mở để vào nhà nói chuyên nhưng ông P không nghe máy và cũng không mở cửa nên V tức giận đã dùng cục đá đập nhiều cái vào các kính xe. Hậu quả, làm trầy bể vở: kính chắn gió, kính cửa trước và cửa sau bên phải, kính cửa trước bên trái xe ô tô mang biển số 60A-52138 của ông P đang đậu trước nhà, gây hư hỏng. Thi t hại tài sản do bị cáo đập phá làm hư hỏng được xác định có trị giá tổng cộng: 19.368.000 đồng.
. Với hành vi vi phạm của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V và hậu quả xảy
ra nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng P luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V và bị hại Di p Trí Plàm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết xét xử theo trình tự phúc thẩm.
. Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V xin được áp
dụng hình phạt chính là phạt tiền, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, chỉ vì tức giận nhất thời do mâu thuẫn trong quan h tình cảm (bị cáo và ông P sống chung như vợ chồng hơn 02 năm) và hợp tác kinh doanh giữa ông P với bị cáo. Nguyễn Thị Hoàng V không kìm chế bản thân đã có hành vi dùng đá đập phá xe ô tô của ông P làm hư hỏng, gây thi t hại đã nêu trên là vi phạm P luật nên bị cáo phải chịu trách nhi m hình sự do hành vi của mình đã gây ra. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguy n nộp lại tiền để khắc phục thi t hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ và xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới là: đã giao nộp tiếp số tiền 5.548.000 đồng còn lại theo bản án đã tuyên để bồi thường toàn bộ thi t hại cho bị hại; bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình phải trực tiếp nuôi dưỡng 03 người con chưa thành niên (sau khi ly hôn). Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường toàn bộ thi t hại khắc phục hậu quả là có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; giữa bị cáo và bị hại có thời gian dài có quan h tình cảm (sống chung như vợ chồng) và quan h hợp tác kinh doanh; hành vi của bị cáo là bộc phát nhất thời do đôi bên phát sinh mâu thuẫn, hậu quả không lớn nên xét không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục. Xét đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V là có cơ sở được chấp nhận. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng thay đổi hình phạt chính từ phạt tù thành phạt tiền đối với bị cáo.
. Xét yêu cầu kháng cáo của bị hại Di p Trí Pvề vi c tăng mức phạt tù
đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V là không có cơ sở nên không được chấp
nhận. Phân tích, nhận định của Hội đồng xét xử đối với yêu cầu kháng cáo của
bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V cũng là quan điểm để bác yêu cầu kháng cáo của bị
hại cũng như quan điểm của Luật sư bảo v quyền lợi cho bị hại.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hi u lực P luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; sửa một
phần bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân
dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Nguyễn Thị Hoàng
V về hình phạt; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V số tiền 30.000.000 đồng về
tội Cố ý làm hư hỏng tài sản , sung ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Di p Trí Pvề vi c tăng hình
phạt đối với Nguyễn Thị Hoàng V.
Bị cáo Nguyễn Thị Hoàng V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hi u lực P luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hi u lực P luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP. HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND quận Tân Bình; (1) - Bị cáo; (1) - Bị hại, luật sư (2) - Chi cục THA quận Tân Bình ; (1) - TAND quận Tân Bình ; (2) - Công an quận Tân Bình ; (1) - Sở Tư P; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (19) (3) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Trực |