vanban.org

Bản án 297/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Trần Linh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023. Xử phạt bị cáo Trƣơng Đình B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đình B phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 297/2023/HS-ST
Ngày 12-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung.

2. Ông Nguyễn Đức Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 298/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 433/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Trƣơng Đình B, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Số H, đƣờng N, tổ I, khu phố A, phƣờng P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trƣơng Văn H, sinh năm 1966 và bà Hồ Thị Đ, sinh năm 1969; vợ tên Nguyễn Kim T, sinh năm 1985; có 03 con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Bản án số 129/2019/HS-ST ngày 01/8/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 02/10/2019, chƣa đóng án phí; tiền sự: Ngày 12/10/2018, Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh Quyết định xử phạt hành chính 6.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, bị cáo chƣa nộp phạt.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/5/2023, có mặt tại phiên tòa.

2/ Trần Linh C, sinh năm 1992 tại tỉnh Vĩnh Long; thƣờng trú: Số C, tổ D, khu phố A, phƣờng A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn C1 (không rõ năm sinh) và bà Nguyễn Thị P (không rõ năm sinh); vợ tên Nguyễn Đào Phƣơng T1, sinh năm 1993; bị cáo chƣa có con; có 03 anh, chị, em ruột lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1989; tiền án: Bản án số 175/2020/HS-ST ngày 09/9/2020 của Tòa án nhân dân nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 27/6/2021, đóng án phí ngày 02/11/2020; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/5/2020, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 33/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn chấp hành án 15 tháng kể từ ngày 16/02/2020, ngày 27/7/2020, Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 ra Quyết định tạm thời đƣa ngƣời ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc để tạm giam điều tra trong vụ án trộm cắp tài sản xét xử ngày 09/9/2020.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 17/5/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Chị Dƣơng Thị Ngọc B1, sinh năm 2003; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.

2/ Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1979; địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt.

3/ Anh Trần Tấn B2, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Đào Phƣơng T1, sinh năm 1993; thƣờng trú: Số E, X, Phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 17/5/2023, Công an phƣờng A tuần tra khu vực tổ E, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thấy Trần Linh C đang đi bộ còn Trƣơng Đình B đang điều khiển xe môtô Honda Wave RSX, màu đỏ đen biển số 59S2-247.24, nên yêu cầu C và B cho kiểm tra giấy tờ tùy thân, lúc này C và B bỏ chạy nên lực lƣợng Công an truy đuổi và bắt giữ đƣa về trụ sở Công an phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để làm việc với C và B. Quá trình làm việc, C và B tự thú và khai nhận đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản là điện thoại di động trên địa bàn phƣờng A và phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng liên tiếp vào ngày 03/5/2023, 04/5/2023, cụ thể nhƣ sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/5/2023, C điều khiển xe môtô Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số: 59S2-247.24 đến quán cà phê thuộc phƣờng A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đón B và chở B đi tìm tài sản để trộm cắp. Khoảng 21h00 phút cùng ngày, C và B đi đến địa bàn khu phố B, phƣờng A, thành phố D. Lúc này, C điều khiển xe đi vào trong hẻm, dừng xe ở dãy trọ số C khu phố B, phƣờng A, thành phố D, B đứng ở ngoài giữ xe, C đi bộ vào dãy trọ tìm tài sản, khi tới phòng trọ số 05 của chị Dƣơng Thị Ngọc B1 thấy chị B1 đang ngủ, cửa số phòng trọ đang mở, Chiêu thấy 01 chiếc điện thoại Oppo A15S màu xanh đang sạc pin để kế cửa sổ nên dùng tay lấy rồi ra chỗ B đang đậu xe chờ sẵn bên ngoài tẩu thoát.

Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi C và B đi đến nhà số E N, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, B ở ngoài chờ, còn C đi bộ vào dãy trọ tìm tài sản, khi đi tới phòng trọ số 13 của chị Nguyễn Thị K, lúc này chị K đang ngủ nằm sát cửa sổ, cửa sổ phòng trọ đang mở, C nhìn vào thấy 01 điện thoại Vivo Y21S màu xanh đang để bên ngƣời chị K trên giƣờng, C dùng tay lấy rồi đi ra chỗ B đang đậu xe chờ sẵn bên ngoài rồi tẩu thoát.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/5/2023, C và B tiếp tục điều khiển xe môtô đi tìm tài sản để trộm cắp, khi đi đến nhà số D khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thấy phòng trọ số 8B của anh Trần Tấn B2, lúc này anh B2 đang ngủ, cửa sổ phòng trọ đang mở, Chiêu thấy 01 điện thoại Samsung Galaxy J6 màu đen đang sạc để gần cửa sổ nên C dùng tay lấy điện thoại rồi đi ra chỗ B đang chờ sẵn bên ngoài rồi cả hai đi về chỗ ở tại phƣờng A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, C nói bán 03 cái điện thoại rồi chia tiền cho B. Khoảng trƣa ngày 04/5/2023, C điều khiển xe môtô Honda Wave RSX màu đỏ đen biển số: 59S2-247.24, mang 03 điện thoại đến tiệm điện thoại “Trí Iphone” ở số A, đƣờng N, Phƣờng C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một thanh niên (không rõ nhân thân) bán đƣợc 2.700.000 đồng và C điều khiển xe môtô đến gặp B ở quán cà phê (không xác định tên) thuộc phƣờng A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đƣa cho B số tiền 1.000.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 97/KLĐGTS ngày 07/6/2023 của Hội đồng định giá tại sản thƣờng xuyên thành phố D thì tài sản bị trộm là 01 điện di động thoại Oppo A15S màu xanh có trị giá 2.000.000 đồng: 01 điện thoại di động Vivo Y21S màu xanh có trị giá 2.700.000 đồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy J6 màu đen có trị giá 1.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 5.900.000 đồng.

Theo kết luận định giá tài sản số 142/KLĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên thành phố D kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 59S2-247.24, số khung: 3203EY044017, số máy: JA32E1100736 có trị giá 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản số 142/KLĐGTS ngày 07/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thƣờng xuyên trong tố tụng thành phố D.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

+ 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 59S2-247.24, số khung: 3203EY044017, số máy: JA32E1100736 là tài sản chung của bị cáo Trần Linh C và vợ Nguyễn Đào Phƣơng T1. Chị T1 không biết C đã sử dụng xe mô tô vào mục đích phạm tội. Kết luận định giá tài sản chiếc xe môtô có trị giá 5.000.000 đồng, chị T1 đã nộp số tiền 2.500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nƣớc, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả lại xe môtô cho chị T1.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Dƣơng Thị Ngọc B1 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 2.000.000 đồng, chị Nguyễn Thị K yêu cầu bồi thƣờng số tiền 2.700.000 đồng, anh Trần Tấn B2 yêu cầu bồi thƣờng số tiền 1.200.000 đồng. Gia đình Trần Linh C và Trƣơng Đình B đã bồi thƣờng thiệt hại tổng số tiền 5.900.000 đồng, các bị hại không còn yêu cầu gì khác.

Đối với anh Bùi Thanh T2 là chủ tiệm điện thoại “Trí I” khai nhận vào ngày 05/5/2023 không mua điện thoại của bị cáo C, đồng thời tại tiệm điện thoại có gắn camera tuy nhiên dữ liệu trong camera chỉ còn lƣu trữ từ ngày 13/5/2023 đến ngày lấy lời khai ngày 17/5/2023, đồng thời bị cáo xác định khi bán điện thoại không nói cho ngƣời mua biết về việc tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý anh T2.

Tại Cáo trạng số 308/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B, mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về biện pháp tƣ pháp: Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 2.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, biên bản ngƣời phạm tội tự thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 03/5/2023, tại phòng trọ số E dãy nhà trọ số C khu phố B, phƣờng A, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Trần Linh C dừng xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số: 59S2-247.24 ở bên ngoài để Trƣơng Đình B chờ, còn C vào trong dùng tay đƣa qua cửa sổ chỗ chị Dƣơng Thị Ngọc B1 đang ngủ lấy 01 chiếc điện thoại Oppo A15S màu xanh đang sạc pin; đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, tại phòng trọ số 13 nhà số E N, khu phố B, phƣờng A, thành phố D, B ở ngoài chờ còn C dùng tay đƣa qua cửa sổ gần chỗ chị Nguyễn Thị K đang ngủ để lấy 01 điện thoại Vivo Y21S màu xanh đang để bên ngƣời chị K trên giƣờng; khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/5/2023, tại phòng trọ số 8B nhà số D khu phố N, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, B ở ngoài chờ, còn C đi vào trong dùng tay đƣa qua cửa sổ lấy 01 điện thoại Samsung Galaxy J6 màu đen đang sạc pin của anh Trần Tấn B2. Hành vi 03 lần lén lút chiếm đoạt 03 điện thoai của các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B với trị giá 5.900.000 đồng trong đó có 02 lần tài sản đã đủ định lƣợng trên 2.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do vậy, bản Cáo trạng số 308/CT-VKS-DA ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự tại địa phƣơng. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, bị Nhà nƣớc nghiêm cấm nhƣng vì tham lam tƣ lợi, lƣời lao động nên đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là giản đơn, không có phân công vai trò cụ thể trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội nên không coi là tội phạm có tổ chức. Bị cáo C là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo B là ngƣời đứng ngoài cảnh giới, sau khi chiếm đoạt đƣợc điện thoại bị cáo C là ngƣời đi bán tài sản rồi chia tiền lại cho bị cáo B.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có tiền án, chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mới là tái phạm; các bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tự thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; gia đình các bị cáo đã bồi thƣờng cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhƣng các bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện, tu dƣỡng bản thân; bị cáo B có 01 tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thƣờng trị giá tài sản bị thiệt hại cho các bị hại, quá trình điều tra các bị hại không còn yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng: Xét xe môtô nhãn hiệu Honda, Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 59S2-247.24, số khung: 3203EY044017, số máy: JA32E1100736 là tài sản chung của bị cáo Trần Linh C và vợ Nguyễn Đào Phƣơng T1. Chị T1 không biết bị cáo C sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội. Kết luận định giá tài sản chiếc xe môtô có trị giá 5.000.000 đồng, chị T1 đã tự nguyện nộp số tiền 2.500.000 đồng thay cho bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nƣớc, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đã trả lại xe môtô cho chị T1 là đúng quy định.

Đối với anh Bùi Thanh T2 là chủ tiệm điện thoại “Trí I” khai nhận vào ngày 05/5/2023 không mua điện thoại của bị cáo C, đồng thời tại tiệm điện thoại có gắn camera tuy nhiên dữ liệu trong camera chỉ còn lƣu trữ từ ngày 13/5/2023 đến ngày lấy lời khai ngày 17/5/2023, đồng thời bị cáo xác định khi bán điện thoại không nói cho ngƣời mua biết về việc tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý anh T2 là có căn cứ.

Mức hình phạt, xử lý vật chứng nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Linh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023.

Xử phạt bị cáo Trƣơng Đình B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023.

2. Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng theo Lệnh thanh toán ngày 18/9/2023.

(Theo lệnh thanh toán ngày 18/9/2023).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Trần Linh C và Trƣơng Đình B, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ