vanban.org

Bản án 297/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng S được ly hôn với anh Dương Thái H. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H có 02 con chung tên Dương Thái Ph, sinh ngày 09/5/2004 và Dương Thái Hồng Ph1, sinh ngày 13/01/2010. Giao con chung tên Dương Thái Hồng Ph1 cho chị Nguyễn Thị Hồng S đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân Nguyễn Thị Hồng S"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 07-6-2023
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phùng Văn Long.

2. Ông Tạ Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Trà My – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2023, tại Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1979

Trú tại: ấp LB, xã MPT, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang

2. Bị đơn: Anh Dương Thái H, sinh năm 1976

Trú tại: ấp Long Thạnh A, xã LH, huyện CT, tỉnh Tiền Giang

(Chị S có đơn xin vắng mặt, vắng mặt anh H)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 27 tháng 01 năm 2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S trình bày: Chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã MPT, huyện CL, tỉnh Tiền Giang vào năm 2004. Hôn nhân do tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi, không có tiếng nói chung trong gia đình. Anh chị đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Chị S và anh H sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay xét thấy hạnh phúc không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Hồng S yêu cầu ly hôn với anh Dương Thái H.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Dương Thái Ph, sinh ngày 09/5/2004 và Dương Thái Hồng Ph1, sinh ngày 13/01/2010. Đối với Dương Thái Ph đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết. Khi ly hôn, chị S yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Dương Thái Hồng Ph1. Chị S chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: vợ chồng tự thoả thuận phân chia, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là anh Dương Thái H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị S.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng S, cho chị S được ly hôn với anh Dương Thái H, chị S được tiếp tục nuôi con chung tên Dương Thái Hồng Ph1, anh H chưa cấp dưỡng nuôi con chung vì chị S chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H là quan hệ tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hồng S có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị S theo quy định. Bị đơn là anh Dương Thái H được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, số đăng ký 642, ngày đăng ký ngày 27 tháng 7 năm 2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị S và anh H chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị S yêu cầu được ly hôn với anh H là có cơ sở, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Dương Thái Ph, sinh ngày 09/5/2004 và Dương Thái Hồng Ph1, sinh ngày 13/01/2010. Đối với Dương Thái Ph đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Khi ly hôn, chị S yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Dương Thái Hồng Ph1. Chị S chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, Dương Thái Hồng Ph1 có nguyện vọng được sống chung với chị S, Hồng Ph1 hiện đang do chị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định cuộc sống cho Dương Thái Hồng Ph1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, để chị S được trực tiếp nuôi con chung Dương Thái Hồng Ph1. Anh Dương Thái H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị S chưa có yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị S yêu cầu để chị S và anh H tự thoả thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về nợ chung: Chị S khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng S được ly hôn với anh Dương Thái H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Dương Thái H có 02 con chung tên Dương Thái Ph, sinh ngày 09/5/2004 và Dương Thái Hồng Ph1, sinh ngày 13/01/2010. Giao con chung tên Dương Thái Hồng Ph1 cho chị Nguyễn Thị Hồng S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Dương Thái H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị S chưa có yêu cầu.

Anh Dương Thái H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị S đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021451 ngày 27/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nên chị Nguyễn Thị Hồng S đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ