vanban.org

Bản án 297/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 20/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2022. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc A - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 297/2022/HS-ST
Ngày 21 tháng 9 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Có

Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiệt– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa trực tuyến tại các điểm cầu: Điểm cầu Trung tâm tại Hội trường A – Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang và điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến – Nhà tạm giữ Công an thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 276/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc A, sinh năm 1966, tại tỉnh B; hộ khẩu thường trú: Thôn x, xã N1, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Ch (đã chết) và bà Ngô Thị S (đã chết);

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 20/2017/HSST ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Phạm Ngọc A 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/11/2017.

Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2022 đến nay; bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần, có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tuyết H, sinh ngày 07/4/2004

Hộ khẩu thường trú: Thôn P2, xã Ph, huyện N2, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở: 16 đường S, H, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm, vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Trọng Ph, sinh năm 1996; trú tại: 20/16 Ng, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm, vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1969; trú tại: Khóm x1 thị trấn V1, huyện V2, tỉnh Khánh Hòa; tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm, vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Ông Ngô Quang Đ, sinh năm 2001; trú tại: x2 T, phường V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm, vắng mặt.

- Ông Phạm Tấn L, sinh năm 2001, trú tại: x3 T, phường V3, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10/10/2020, Phạm Ngọc A đến quán lẩu bò H có địa chỉ số x4 đường Ng, phường P, thành phố N để ăn uống. Sau khi ăn xong, A tính tiền rồi ra về, khi ra đến bãi giữ xe, A thấy 01 điện thoại di động hiệu Realme 5 của chị Nguyễn Thị Tuyết H đang để trong rổ rau tại khu vực rửa chén gần chỗ A để xe. Quan sát thấy không ai trông giữ, A lén lút lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe máy đến khu vực đường L, phường P, gặp Nguyễn Trọng Ph, Ngô Quang Đ, Phạm Tấn L đang ngồi ăn ở quán vỉa hè. Lúc này, Ngọc A đi vào quán và nói điện thoại vừa nhặt được, muốn bán với giá 800.000 đồng. Sau khi xem điện thoại xong, Ph đồng ý mua với giá 500.000 đồng, bán được điện thoại, A bỏ đi. Sau đó, điện thoại Ph vừa mua được có người nhà của chị H gọi đến nói điện thoại bị mất trộm, biết là tài sản trộm cắp mà có nên Ph, Đ, L đuổi theo A, đến đoạn đường Kh giao với đường N thì bắt được A rồi trình báo Công an phường P làm việc.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 550/HĐĐG ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Realme 5 64GB có trị giá 2.688.300 đồng (hai triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn ba trăm đồng).

Tại bản Cáo trạng số 236/CT-VKSNT ngày 02 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Phạm Ngọc A khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 10 tháng 10 năm 2020, tại quán lẩu bò H, địa chỉ số x4 đường Ng, phường P, thành phố N, Phạm Ngọc A đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Realme 5 64GB của chị Nguyễn Thị Tuyết H trị giá 2.688.300 đồng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Quá trình điều tra, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, điều này thể hiện bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Về trách nhiệm dân sự

Bị hại Nguyễn Thị Tuyết H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng Ph vắng mặt tại phiên tòa nhưng hồ sơ vụ án thể hiện chị H đã nhận lại tài sản. Chị H và anh Ph đều không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

Đối với 01 xe máy biển kiểm soát 79N3 – 6314, số máy FMH017577, số khung đã bị tẩy xóa: Theo kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì xe máy trên là của bà Nguyễn Thị Ngọc Th, địa chỉ: Khóm y, thị trấn V1, huyện V2, tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, kết quả xác minh của Công an thị trấn V1 thể hiện, tại địa chỉ trên không có đương sự tên Nguyễn Thị Ngọc Th. Do đó, cần giao xe máy trên lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang để tiếp tục điều tra làm rõ chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 5 năm 2022.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Tuyết H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trọng Ph không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về vật chứng:

Giao 01 (một) xe máy kiểu wave anpha biển kiểm soát 79N3 – 6314, số máy FMH017577, số khung đã bị tẩy xóa cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo Phạm Ngọc A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ