- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà K xin ly hôn ông S"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| T NH AN AN Bản án số: 297/2018/HN Đ-ST Ngày: 06/9/2018 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PH , TỈNH AN GIANG
- Thành ph n Hội đ ng t ử sơ thẩm g m c :
Th m phán- Ch t a phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo.
Các H i th m nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái;
2. Ông Huỳnh Trường Huân.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An iang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Lưu – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 164/2018/TLST-HN Đ ngày 17 tháng 5 năm 2018, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 369/2018/QĐXXST-DS ngày 06/8/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 396/2018/QĐST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim K, sinh năm 1990; Cư trú: Tổ 5, ấp V, xã VHĐ, huyện A, tỉnh An iang (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn S, sinh năm 1983; Cư trú: Tổ 5, ấp V, xã VHĐ, huyện A, tỉnh An iang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim K trình bày:
Quan hệ hôn nhân giữa bà và ông S là tự tìm hiểu yêu thương nhau được gia đình hai bên chấp nhận nên đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã VHĐ, huyện A, tỉnh An iang. Từ lúc chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp tính tình, thường xuyên cự cãi, ông S không quan tâm chăm sóc gia đình, đánh đập bà nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và đã ly thân. Hiện nay bà không còn tình cảm nên làm đơn khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với ông Hồ Văn S.
Về con chung: Có hai con chung tên Hồ Diễm M, sinh ngày 21/7/2011 và Hồ Nguyễn H, sinh ngày 16/8/2014 hiện đang sống với bà K. Sau khi ly hôn bà K có yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà K vẫn giữ nguyên yêu cầu, không trình bày ý kiến bổ sung và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật. Thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với ông Hồ Văn S nhưng ông S vắng mặt lần thứ hai không lý do nên tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà K, ông S có đăng ký kết hôn nên xem là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống hôn nhân của bà K, ông S có nhiều mâu thuẫn, các bên không còn chung sống với nhau dẫn đến hôn nhân mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên không thể tiếp tục, việc bà K yêu cầu xin được ly hôn là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ hôn nhân của bà K, ông S có đăng ký kết hôn năm 2011 tại UBND xã VHĐ, được xem là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Bà K yêu cầu xin được ly hôn, ông S vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa phương nên yêu cầu xin ly hôn của bà K được Tòa án thụ lý giải quyết phù hợp với quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình và các Điều 29, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án đã tiến hành hòa giải, công khai tài liệu, chứng cứ và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông S không tham gia hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
Ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông S là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tình cảm: Bà Nguyễn Thị Kim K xin được ly hôn với ông Hồ Văn S nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp tính tình, thường xuyên cự cãi, ông S thường đánh đập bà K nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và ly thân đến nay.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của những người thân của bà K, ông S xác định quan hệ hôn nhân giữa bà K, ông S có nhiều mâu thuẫn, trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cự cãi, ông S có đánh đập bà K nên phát sinh mâu thuẫn, tình trạng cứ tiếp tục kéo dài dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên không chung sống với nhau nữa.
Từ đó có thể khẳng định quan hệ hôn nhân của bà K và ông S đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin được ly hôn của bà K là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Có hai con chung tên Hồ Diễm M, sinh ngày 21/7/2011 và Hồ Nguyễn H, sinh ngày 16/8/2014 hiện đang sống với bà K. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông S về con chung nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của bà K là có căn cứ chấp nhận.
Bà K nuôi con chung nhưng không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con, nghĩ nên công nhận sự tự nguyện của bà K. Tuy nhiên, bà K cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con không cố định sẽ có thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cả hai bên.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Bà K là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim K.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim K được ly hôn với ông Hồ Văn S.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim K được nuôi hai cháu Hồ Diễm M, sinh ngày 21/7/2011 và Hồ Nguyễn H, sinh ngày 16/8/2014.
Công nhận sự tự nguyện của bà K không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con không cố định sẽ có thay đổi khi có yêu cầu chính đáng của một hoặc cả hai bên.
Bà K cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở ông S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002985 (bà K đã nộp đủ).
Thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt hoặc đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An iang xét xử phúc thẩm.
(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An iang; - VKSND huyện A; - THADS huyện A; - UBND xã VHĐ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Bảo |