- Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Phan Ngọc H khởi kiện hành vi hành chính"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Phan Ngọc H và giữ nguyên quyết định của Bản án số 06/2024/HC-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 7 Nghị định số 37/2005/NĐ-CP Về việc quy định thủ tục áp dụng…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 296/2025/HC-PT Ngày: 23 - 4 - 2025 V/v: “Khiếu kiện hành vi hành chính trong quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Ông Nguyễn Xuân Điền
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu- Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Đỗ Quyên và ông Trần Minh Châu- Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai, trực tuyến (Điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Điểm cầu thành phần: Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên) vụ án hành chính thụ lý số 29/2025/TLPT-HC ngày 15 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án số 06/2024/HC-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2990/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Phan Ngọc H, sinh năm 1960; Địa chỉ: T1, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Mai N, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ 18, phường N, quận L, thành phố Hà Nội, theo Văn bản ủy quyền ngày 24/11/2023 (Vắng mặt).
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C- Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện V, theo Văn bản ủy quyền ngày 24/4/2024 (Xin vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1- Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T- Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện V.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc C - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện V, theo Văn bản ủy quyền ngày 24/4/2024 (Xin vắng mặt).
3.2- Ủy ban nhân dân xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Mạnh T- Chức vụ: Chủ tịch UBND xã X (Xin vắng mặt).
3.3- Công ty Cổ phần tập đoàn E. Địa chỉ: Khu đô thị Thương mại - Du lịch V - xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công H- Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn E (Xin vắng mặt).
3.4- Bà Tạ Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: T1, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt).
3.5- Anh Phan Ngọc H2, sinh năm 1993. Địa chỉ: T1, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt).
3.6- Chị Phan Thị Thu H3, sinh năm 1988. Địa chỉ: 3717S4 Khu nhà ở VP-DV 136 H, phường P, quận N, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
3.7- Chị Phan Thị Khánh L, sinh năm 1990. Địa chỉ: CH 808 Khu 262 N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
Đều ủy quyền cho ông Phan Ngọc H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Năm 1993, hộ gia đình ông Phan Ngọc H được chia ruộng nông nghiệp tiêu chuẩn để canh tác. Biên bản giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình năm 1998 thể hiện, hộ ông Phan Ngọc H có 05 nhân khẩu được giao ruộng gồm: Ông Phan Ngọc H, bà Tạ Thị H1, chị Phan Thị Thu H2, chị Phan Thị Khánh L, anh Phan Ngọc H3, tại 10 ô thửa khác nhau, trong đó có các thửa đất thuộc diện bị thu hồi:
- Thửa đất số 157/1, TBĐ số 3, diện tích 90m2, tại xứ đồng Thì đầm;
- Thửa đất số 159/78, TBĐ số 3,diện tích 90m2 tại xứ đồng Thì đầm;
- Thửa đất số 81/1, TBĐ số 2, diện tích 207m2 tại xứ đồng Đồng dặm;
- Thửa đất số 119/10, TBĐ số 2, diện tích 495m2 tại xứ đồng Đồng dặm;
- Thửa đất số 33/80, TBĐ số 1, diện tích 216m2 tại xứ đồng Đìa giữa;
Ngày 24/04/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã chỉ đạo, tổ chức lực lượng cưỡng chế thu hồi 02 thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình ông H tại xứ đồng Thì Đầm xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên để giao cho Công ty Cổ phần Tập đoàn E (trước đây là Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị V) là chủ đầu tư dự án E. Đối với các thửa đất tại xứ đồng Dặm và xứ đồng Đìa Giữa thì gia đình ông H đã di dời tài sản do bị cưỡng chế đợt 1 từ ngày 09/01/2009 nên các thửa đất này không nằm trong phạm vi bị cưỡng chế ngày 24/04/2012.
Hành vi chỉ đạo tổ chức lực lượng cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/04/2012 tại xã X của Chủ tịch UBND huyện V đã vi phạm các quy định của pháp luật đất đai, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bởi các lý do sau đây:
1- Dự án E không chứng minh được lý do thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai năm 2003
2- Tại thời điểm cưỡng chế thu hồi đất giao cho Công ty thì không có văn bản phê duyệt quy hoạch xây dựng Khu đô thị E. Kế hoạch sử dụng đất của UBND tỉnh Hưng Yên từ năm 2001 đến năm 2010 không đề cập đến việc xây dựng, phát triển khu đô thị E ở huyện V.
3- Chủ tịch UBND huyện V chỉ đạo tổ chức lực lượng cưỡng chế thu hồi đất mà không bàn bạc với các hộ có đất bị thu hồi và Hội đồng nhân dân các cấp là trái pháp luật.
4- Thu hồi đất của người dân không tuân theo quy định pháp luật đất đai, không có thông báo thu hồi đất, không ra quyết định thu hồi đất hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất; không xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. UBND xã không niêm yết quyết định cưỡng chế thu hồi đất tại trụ sở UBND xã theo quy định.
Ông Phan Ngọc H đề nghị Tòa án tuyên bố hành vi tổ chức lực lượng cưỡng chế thu hồi đất ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V là trái pháp luật; yêu cầu Công ty cổ phần tập đoàn E ngừng ngay hoạt động thi công và hoàn trả tài sản đất đai đã được bàn giao do hành vi cưỡng chế ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V trình bày:
1. Khái quát về dự án:
- Ngày 25/3/2004, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 632/QĐ-UB về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị thương mại - Du lịch V. Xác định Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V.
- Ngày 30/3/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 303/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên, phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2001 – 2005) tỉnh Hưng Yên; theo đó đã phê duyệt bổ sung quỹ đất để tạo vốn xây dựng hạ tầng đô thị huyện V là 500 ha.
- Ngày 25/06/2004, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định 1430/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị Thương mại - Du lịch V, tỉnh Hưng Yên và Quyết định 1431/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tuyến đường giao thông liên tỉnh Hưng Yên - Hà Nội; Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V.
- Ngày 30/06/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 742/QĐ-TTg về việc thu hồi 5.540.712m2 đất tại các xã X, Phụng Công, Cửu Cao, Long Hưng, Tân Tiến, thị trấn V thuộc huyện V; các xã Hoàn Long, Yên Phú, Yên Hòa thuộc huyện Yên Mỹ và các xã Đông Tảo, Tân Dân, Dân Tiến thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện V đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Ngày 21/10/2004, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định 2549/QĐ-UB về việc thu hồi 4.990.706m2 đất theo Quyết định số 742/QĐ- TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ tại các xã X, Cửu Cao, Phụng Công và thị trấn V; giao toàn bộ diện tích đất cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị Thương mại-Du lịch V, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng; Quyết định số 2550/QĐ-UB về việc thu hồi 550.006m2 đất theo Quyết định số 742/QĐ - TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ tại các xã X, Cửu Cao, Phụng Công và thị trấn V; giao 541.133m2 đất cho Công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị V để xây dựng đường từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện V đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu và 8.873m2 đất để làm mương thủy lợi mới theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
- Ngày 8/6/2005, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 2006/QĐ-UB về việc phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, giao đất cho Công ty Cổ phần đầu tư và Phát triển đô thị V, để xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu Đô thị - Thương mại- Du lịch V, địa phận xã X, huyện V. Trong đó có nội dung bồi thường đất nông nghiệp cho các hộ dân là 466.605,82 m2 x 43.425đ/m2.
2. Công tác giải phóng mặt bằng dự án:
- Về thực hiện công tác đền bù GPMB: Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V đã tiến hành kiểm kê, lập phương án trình UBND huyện V ban hành quyết định phê duyệt; tổ chức niêm yết công khai phương án bồi thường để người dân được biết và kiểm tra; tổ chức chi trả cho các hộ tự nguyện nhận tiền và bàn giao mặt bằng; chuyển tiền vào Ngân hàng đối với các hộ chưa nhận tiền. Kết quả thực hiện GPMB như sau:
+ Tổng số hộ gia đình đã nhận tiền bồi thường GPMB và bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện việc cưỡng chế: 1560 hộ/1720 hộ.
+ Tổng số hộ gia đình còn lại không nhận tiền bồi thường GPMB và không bàn giao mặt bằng tính đến trước thời điểm thực hiện cưỡng chế: 160 hộ. Diện tích phải cưỡng chế khoảng 5,86 ha.
(Tính đến thời điểm hiện nay, số hộ gia đình đã nhận tiền GPMB: 1623 hộ/1723 hộ. Số hộ gia đình không nhận tiền GPMB là 97 hộ).
- Về công tác tuyên truyền, vận động: Huyện ủy, UBND huyện V và UBND xã X đã tổ chức rất nhiều hội nghị họp dân và đối thoại để tuyên truyền, vận động, giải thích, thuyết phục các hộ dân ủng hộ dự án; phổ biến chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB cùng các khoản hỗ trợ của Chủ đầu tư nhằm đảm bảo lợi ích cho người có đất bị thu hồi (phát cho từng hộ dân bộ tài liệu tuyên truyền).
- Về công tác tổ chức cưỡng chế: Do hộ gia đình người khởi kiện ông Phan Ngọc H không chấp hành quyết định thu hồi đất, không chấp hành việc di chuyển cây cối, hoa màu và các loại tài sản trên đất để thực hiện Dự án theo Thông báo số 34/TB - HĐBT ngày 23/11/2011 của Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (HĐBT-HT và TĐC) huyện V nên ngày 05/12/2011, đại diện Hội đồng, UBND xã X và cơ sở thôn đã lập biên bản bàn giao đất với hộ gia đình ông H. Theo đó, ông H phải tiến hành bàn giao các thửa đất bị thu hồi vào dự án Khu đô thị thuộc địa phận xã X, gồm: xứ đồng Thì Đầm 90m2 + 90m2. Tuy nhiên, hộ gia đình không ký biên bản bàn giao đất.
Ngày 12/12/2011, UBND xã X lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông H với hành vi không trả lại đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 12/12/2011, Tổ công tác thôn 1 đã tiến hành giao biên bản vi phạm hành chính nhưng ông H không ký biên bản.
Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V (ủy quyền cho ông Chu Quốc H-Phó Chủ tịch UBND huyện theo văn bản ủy quyền ngày 02/12/2011) đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5415/QĐ-XPHC đối với ông H vì đã có hành vi không thực hiện việc giải tỏa tài sản trên đất, bàn giao đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 39, Điều 40 Luật Đất đai 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Hình thức xử phạt là phạt tiền với mức phạt là 1.000.000 đồng; yêu cầu ông H phải di chuyển cây cối, hoa màu, các loại tài sản trên đất để bàn giao lại đất đúng thời hạn. Thời hạn nộp phạt là 10 ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt. Nếu quá thời hạn mà người bị xử phạt không chấp hành quyết định xử phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành và phải chịu mọi chi phí cho việc tổ chức cưỡng chế.
Ngày 14/12/2011, Tổ công tác thôn 1 đã đến nhà giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng ông H không hợp tác và không ký biên bản.
Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 546/QĐ-CCK về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông H; lý do cưỡng chế: Không thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Địa điểm thực hiện cưỡng chế: Xứ đồng T, xã X, huyện V. Biện pháp cưỡng chế: Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời gian thực hiện cưỡng chế: Từ ngày 20/4/2012.
Ngày 5/4/2012, Tổ công tác thôn 1 đã đến gia đình để giao quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác nhưng ông H không hợp tác.
Ngày 23/4/2012, UBND huyện V ban hành Thông báo số 43/TB-UBND về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu Đô thị - Thương mại - Du lịch V. Ngày 24/4/2012, UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa; kết quả cưỡng chế được lập thành biên bản và gửi cho hộ gia đình nhưng hộ gia đình không hợp tác.
Vì vậy, người bị kiện xác định về tính hợp pháp, thẩm quyền, trình tự thủ tục, căn cứ ban hành các quyết định hành chính có liên quan (quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai) và hành vi tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế ngày 24/4/2012 đối với người khởi kiện là phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- UBND huyện V, tỉnh Hưng Yên thống nhất quan điểm, đề nghị của người bị kiện Chủ tịch UBND huyện V và không bổ sung nội dung gì khác.
- UBND xã X, huyện V có quan điểm xác định việc cưỡng chế thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ gia đình người khởi kiện đã bảo đảm đúng trình tự, tủ tục theo quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
- Công ty Cổ phần Tập đoàn E đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong gia đình ông H có quan điểm thống nhất với quan điểm của người khởi kiện.
Tại Bản án số 06/2024/HC-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3, khoản 4 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 116; Điều 158; Điều 191; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
- Điều 22a, Điều 23 Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001; Điều 39, Điều 40 Luật đất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009;
- Các Điều 20, 25, 29, 55, 56, 66, 67 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008;
- Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai.
- Điều 4, Điều 5, Điều 17 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Ngọc H về việc yêu cầu Tòa án tuyên hành vi tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với hộ ông Phan Ngọc H trái pháp luật.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo của các bên đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/7/2024, ông Phan Ngọc H là người khởi kiện kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, buộc Công ty cổ phần tập đoàn E hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất cho gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện là ông Phan Ngọc H không rút đơn khởi kiện, không rút kháng cáo. Ông H đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và buộc Công ty cổ phần tập đoàn E hoàn trả lại toàn bộ diện tích đất cho gia đình ông vì các cơ quan hành chính Nhà nước tỉnh Hưng Yên làm trái pháp luật, căn cứ Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ không có dấu, gia đình không nhận được bất cứ quyết định gì.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: - Về tố tụng: Hoạt động tiến hành tố tụng của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, của Hội đồng xét xử phúc thẩm (viết tắt: HĐXXPT), Thư ký đúng quy định của pháp luật; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Đơn kháng cáo của người khởi kiện làm trong hạn luật định là hợp lệ đủ điều kiện xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXXPT áp dụng khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên quyết định của Bản án số 06/2024/HC-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; nghe các bên đương sự trình bày, tranh luận; nghe đại diện VKSND cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, HĐXXPT nhận định như sau:
Ngày 08/7/2024, người khởi kiện Phan Ngọc H nộp đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm, thực hiện trong thời hạn luật định được Tòa án chấp nhận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm lần 2, vắng mặt người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng tiến hành xét xử vụ án theo đúng Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính.
Về thời hiệu, thẩm quyền giải quyết và đối tượng khởi kiện:
Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của ông Phan Ngọc H, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã xác định đúng đối tượng khởi kiện và thụ lý giải quyết vụ án hành chính là đúng thẩm quyền, trong thời hiệu khởi kiện, quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 3, khoản 1 Điều 30 và khoản 3, khoản 4 Điều 32, a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh hưng Yên có xem xét quyết định hành chính có liên quan là đúng quy định tại khoản 1 Điều 6; điểm đ khoản 3 Điều 191 của Luật Tố tụng hành chính.
Xét kháng cáo của người khởi kiện:
Về thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư:
Về thẩm quyền, căn cứ thu hồi đất, giao đất: Việc thu hồi đất và giao đất cho Chủ đầu tư Công ty Cổ phần tập đoàn E (trước đây là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V) để thực hiện Dự án Khu đô thị Thương mại-Du lịch V được thực hiện theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, được quy định tại Điều 22 của Luật đất đai năm 1993, sửa đổi bổi sung năm 1998 (Khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993). Theo Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ có nội dung: Thu hồi 5.540.712m2 đất tại các xã X, Phụng Công, Cửu Cao, Long Hưng, Tân Tiến, thị trấn V thuộc huyện V; các xã Hoàn Long, Yên Phú, Yên Hòa thuộc huyện Yên Mỹ và các xã Đông Tảo, Tân Dân, Dân Tiến thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên; giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án xây dựng tuyến đường từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên đoạn từ huyện V đến xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong đó, diện tích đất giao cho Chủ đầu tư đã bỏ vốn xây dựng đường là 4.990.706m2/tổng số 5.540.712m2. Để cụ thể hóa Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành Quyết định 2549/QĐ-UB ngày 21/10/2004, về việc thu hồi 4.990.706m2 đất tại các xã X, Cửu Cao, Phụng Công và thị trấn V; giao toàn bộ diện tích đất này cho Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị Thương mại - Du lịch V, tỉnh Hưng Yên theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.
Đối chiếu với quy định tại Điều 22a Luật đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 1998 thì Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong một số trường hợp để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng theo dự án do Chính phủ quyết định; quy định tại Điều 23 Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 2001 (Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001); hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 04/200/NĐ-CP ngày 11/2/2000 thì Chính phủ có thẩm quyền thu hồi đất, giao đất theo phương thức sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Việc UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 2549 và 2550 là cụ thể hóa Quyết định số 742 của Thủ tướng Chính phủ, trực tiếp giao đất cho tổ chức sử dụng đất là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V. Do đó, người khởi kiện cho rằng việc thu hồi đất để thực hiện dự án là trái pháp luật là không có cơ sở chấp nhận.
Về trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư: Theo quy định tại Điều 23 của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 1998 thì trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án đã đảm bảo đúng quy định pháp luật. Do đó, người khởi kiện cho rằng việc thu hồi đất để thực hiện dự án là trái pháp luật do không ban hành quyết định thu hồi đất cá biệt, không xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là không có căn cứ chấp nhận.
Ngày 25/3/2004, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định số 632/QĐ-UB về việc phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị Thương mại-Du lịch V, xác định Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V. Ngày 30/3/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 303/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2001-2005) tỉnh Hưng Yên, phê duyệt điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2001 – 2005) tỉnh Hưng Yên, đã phê duyệt bổ sung quỹ đất để tạo vốn xây dựng hạ tầng đô thị huyện V là 500 ha. Ngày 25/06/2004, UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định 1430/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị Thương mại - Du lịch V, tỉnh Hưng Yên và Quyết định 1431/QĐ-UB về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tuyến đường giao thông liên tỉnh Hưng Yên-Hà Nội, Chủ đầu tư là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị V. Do đó, người khởi kiện cho rằng việc thu hồi đất để thực hiện Dự án khi chưa có quyết định phê duyệt dự án, chưa có trong quy hoạch, kế sử dụng đất của tỉnh Hưng Yên là không có căn cứ chấp nhận.
Về thẩm quyền ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5415/QĐ-XPHC ngày 13/12/2011; Quyết định số 546/QĐ-CCK ngày 05/4/2012 về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Phan Ngọc H do Chủ tịch UBND huyện V ban hành là đúng về thẩm quyền theo quy định tại Điều 29 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Điều 25 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 4 của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30/6/2004 về việc thu hồi đất, giao đất cho Chủ đầu tư để thực hiện dự án và UBND tỉnh Hưng Yên ban hành Quyết định thu hồi đất số 2549 để cụ thể hóa Quyết định 742, UBND xã X đã ra thông báo cho người khởi kiện di chuyển cây cối, hoa màu và các loại tài sản trên đất để bàn giao trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng gia đình ông H không thực hiện việc di dời tài sản, không ký biên bản bàn giao đất. Ngày 12/12/2011, UBND xã X đã lập Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và giao Biên bản vi phạm cho hộ gia đình ông H cùng ngày nhưng hộ gia đình không nhận, không ký biên bản. Ngày 13/12/2011, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H vì đã có hành vi không thực hiện việc giải tỏa tài sản trên đất, bàn giao đất đúng thời hạn theo quyết định thu hồi đất và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 39, Điều 40 của Luật đất đai năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 17 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Ngày 14/12/2011, Tổ công tác thôn 1 đã đến nhà giao quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng ông H không ký biên bản. Ngày 05/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 546/QĐ-CCK về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông H vì không thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Địa điểm thực hiện cưỡng chế: Xứ đồng T, xã X, huyện V. Biện pháp cưỡng chế: Giải tỏa mặt bằng trên thực địa để bàn giao đất theo các Quyết định và thông báo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. thời gian thực hiện việc cưỡng chế: "Từ ngày 20/4/2012". Ngày 5/4/2012, Tổ công tác Thôn 1 đã đến gia đình để giao quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác nhưng ông H không ký biên bản. Như vậy, việc Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành các quyết định hành chính nêu trên đối với ông H là đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn, thời hiệu, căn cứ theo quy định tại các điều 20, 55, 56, 66, 67 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008; Điều 4, Điều 5, Điều 17 của Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Điều 2 của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hiệu, căn cứ thực hiện hành vi tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 24/4/2012:
Hành vi tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V bảo đảm đúng về thẩm quyền tại Điều 7 của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Trên cơ sở quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 05/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với ông Hưng nhưng ông H không ký nhận quyết định và không chấp hành, ngày 19/4//2012 và ngày 23/4/2012, Chủ tịch UBND huyện V đã ban hành các thông báo về việc tổ chức hỗ trợ thi công và cưỡng chế bàn giao đất thuộc địa phận xã X để thực hiện dự án Khu đô thị Thương mại
- Du lịch V. Ngày 24/4/2012, UBND huyện V tổ chức thực hiện cưỡng chế ngoài thực địa. Như vậy, hành vi tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 24/4/2012 của Chủ tịch UBND huyện V đối với người khởi kiện là đúng trình tự, thủ tục, thời hiệu và có căn cứ theo quy định tại Điều 6, Điều 8 và Điều 9 của Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Do đó, ông Phan Ngọc H cho rằng Chủ tịch UBND huyện V tổ chức thi hành Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế bằng các biện pháp khác để thi hành quyết định xử phạt vào ngày 24/4/2012 nhưng không bàn bạc với các hộ dân có đất bị thu hồi và Hội đồng nhân dân cùng cấp, không niêm yết quyết định cưỡng chế là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với yêu cầu khởi kiện đề nghị Công ty Cổ phần tập đoàn E ngừng thi công và hoàn trả lại quyền sử dụng đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo loại việc nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét trong vụ án này lf có căn cứ, đúng pháp luật.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết vụ án hành chính theo đơn khởi kiện của ông Phan Ngọc H là đúng thẩm quyền, đã tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định của Luật tố tụng hành chính, không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đã xem xét, đánh giá toàn diện yêu cầu khởi kiện và quyết định hành chính có liên quan và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người khởi kiện không có chứng cứ mới làm thay đổi bản chất vụ án nên không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp các quy định của pháp luật.
Về án phí phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện (ông Phan Ngọc H) không được chấp nhận nhưng ông Hưng là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện là ông Phan Ngọc H và giữ nguyên quyết định của Bản án số 06/2024/HC-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
2. Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí hành chính phúc thẩm cho ông Phan Ngọc H.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 23/4/2025.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND-VKSND-Cục THADS tỉnh Hưng Yên; - Các đương sự, (theo địa chỉ); - Lưu: HSVA, Phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Quang Dũng |